Trong những năm gần đây, vi bằng được nhiều cá nhân, tổ chức sử dụng để ghi nhận sự kiện, hành vi và phòng ngừa tranh chấp. Từ ngày 01/7/2026, Nghị định số 151/2026/NĐ-CP của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên có hiệu lực, thay thế Nghị định số 08/2020/NĐ-CP của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại; theo đó, có nhiều quy định mới về vi bằng.
Thứ nhất, Nghị định số 151/2026/NĐ-CP quy định rõ ràng, cụ thể về giá trị pháp lý của vi bằng (Điều 27) do trong thực tế hiện nay, nhiều cá nhân, tổ chức vẫn còn hiểu chưa đầy đủ về giá trị pháp lý của vi bằng:
- Vi bằng là nguồn chứng cứ để Tòa án nhân dân và các cơ quan có thẩm quyền xem xét khi giải quyết vụ việc theo quy định của pháp luật.
- Vi bằng là một trong những căn cứ để thực hiện các giao dịch hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.
- Vi bằng không thay thế văn bản công chứng, văn bản chứng thực, văn bản hành chính khác.
Thứ hai, các trường hợp sau sẽ không được lập vi bằng (Điều 29):
- Lập vi bằng có liên quan đến quyền, lợi ích của chính mình với người yêu cầu, những người thân thích của mình, bao gồm: vợ, chồng, con đẻ, con nuôi; cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, bác, chú, cậu, cô, dì và anh, chị, em ruột của Thừa hành viên, của vợ hoặc chồng của Thừa hành viên; cháu ruột mà Thừa hành viên là ông, bà, bác, chú, cậu, cô, dì.
- Vi phạm quy định về bảo đảm an ninh, quốc phòng, bí mật nhà nước.
- Vi phạm đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình theo quy định của pháp luật; trái đạo đức xã hội.
- Xác nhận nội dung, việc ký tên trong hợp đồng, giao dịch mà pháp luật quy định thuộc phạm vi hoạt động công chứng, chứng thực; xác nhận tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt; xác nhận chữ ký, bản sao đúng với bản chính.
- Ghi nhận sự kiện, hành vi để chuyển quyền sử dụng, quyền sở hữu đất đai, tài sản không có giấy tờ chứng minh quyền sử dụng, quyền sở hữu theo quy định của pháp luật.
- Ghi nhận sự kiện, hành vi để thực hiện các giao dịch trái pháp luật của người yêu cầu lập vi bằng.
- Ghi nhận sự kiện, hành vi của cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân, sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân đang thi hành công vụ.
- Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

Thứ ba, bên cạnh thỏa thuận bằng văn bản thì thỏa thuận về việc lập vi bằng có thể được thực hiện thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử và được coi là thỏa thuận bằng văn bản (Khoản 2 Điều 29). Người yêu cầu lập vi bằng phải cung cấp đầy đủ, chính xác các thông tin, tài liệu liên quan đến việc lập vi bằng (nếu có) và chịu trách nhiệm về tính chính xác, hợp pháp của các thông tin, tài liệu cung cấp. Đây là một nội dung mới, phù hợp với xu thế số hóa hiện nay.
Thứ tư, về nội dung, hình thức, thủ tục lập vi bằng phải có chữ ký của Thừa hành viên, người yêu cầu và có thể có chữ ký của người tham gia khác; được đóng dấu văn phòng thi hành án dân sự.
Việc điểm chỉ được thực hiện trong trường hợp người yêu cầu lập vi bằng hoặc người tham gia khác không ký được do khuyết tật hoặc không biết ký. Người điểm chỉ sử dụng ngón trỏ phải, nếu không điểm chỉ được bằng ngón trỏ phải thì điểm chỉ bằng ngón trỏ trái, trường hợp không điểm chỉ bằng hai ngón trỏ thì điểm chỉ bằng ngón khác và Thừa hành viên phải ghi rõ việc điểm chỉ bằng ngón tay nào, của bàn tay nào.

Thừa hành viên giải thích cho người dân hiểu về giá trị pháp lý của vi bằng
Thứ năm, về sửa lỗi kỹ thuật vi bằng: Trước đây, theo quy định tại Nghị định số 08/2020/NĐ-CP, thừa phát lại thực hiện việc sửa lỗi kỹ thuật có trách nhiệm đối chiếu từng lỗi cần sửa, gạch chân chỗ cần sửa, sau đó ghi nội dung đã được sửa vào bên lề kèm theo chữ ký của mình và đóng dấu của Văn phòng Thừa phát lại (Khoản 2 Điều 41). Hiện nay, Nghị định số 151/2026/NĐ-CP quy định việc sửa lỗi kỹ thuật vi bằng được thực hiện bằng văn bản (Điều 31) và có các nội dung chủ yếu sau đây:
- Số vi bằng, ngày, tháng, năm lập vi bằng cần sửa lỗi kỹ thuật;
- Nội dung trước khi sửa và nội dung sau khi sửa;
- Chữ ký của Thừa hành viên hoặc Trưởng văn phòng thi hành án dân sự thực hiện việc sửa lỗi và đóng dấu của văn phòng thi hành án dân sự.
Văn bản sửa lỗi kỹ thuật vi bằng thực hiện theo mẫu do Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định.
Trong bối cảnh hiện nay, thanh toán điện tử và các nền tảng mạng xã hội ngày càng phát triển, tranh chấp có thể phát sinh từ một giao dịch trực tuyến, một bài đăng trên mạng xã hội; việc lập vi bằng sẽ đáp ứng nhu cầu của cá nhân, tổ chức tạo lập chứng cứ nhanh chóng, khách quan và hợp pháp. Các quy định mới về vi bằng sẽ góp phần bảo vệ quyền lợi của các bên, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm áp dụng pháp luật thống nhất.
Nguyễn Trinh – Phòng Bổ trợ tư pháp