Tình huống thực tiễn tại xã Hàm Liêm - Nghệ thuật kết hợp thấu tình và Đạt lý
Tải PDF
16:56 21/05/2026
40
Tình huống tranh chấp Huê Hụi - dựa trên tình huống thực tế tại phường 2, Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng
Tải PDF
16:54 21/05/2026
43
Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng tổ chức Hội nghị tập huấn công tác hòa giải ở cơ sở tại Đặc khu Phú Quý
Thực hiện Kế hoạch số 36/KH-STP ngày 10/3/2026 của Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng về công tác hòa giải ở cơ sở năm 2026, ngày 18/5/2026, Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng phối hợp với UBND Đặc khu Phú Quý tổ chức Hội nghị tập huấn, bồi dưỡng kiến thức pháp luật và nghiệp vụ hòa giải ở cơ sở cho đội ngũ cán bộ, công chức và hòa giải viên trên địa bàn. Tham dự và chỉ đạo hội nghị có bà Phạm Thị Minh Hiếu, Phó Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng. Bà Phạm Thị Minh Hiếu – Phó Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng phát biểu khai mạc hội nghị Phát biểu khai mạc, bà nhấn mạnh vai trò quan trọng của công tác hòa giải ở cơ sở trong việc giải quyết kịp thời các mâu thuẫn, tranh chấp phát sinh trong cộng đồng dân cư, góp phần giữ gìn an ninh, trật tự, ổn định xã hội và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đồng thời, bà đề nghị đội ngũ hòa giải viên tiếp tục nâng cao kiến thức pháp luật, rèn luyện kỹ năng nghiệp vụ, phát huy tinh thần trách nhiệm, sự công tâm, khách quan và linh hoạt trong quá trình hòa giải, phấn đấu nâng cao tỷ lệ hòa giải thành tại địa phương. Quang cảnh Hội nghị tập huấn hòa giải ở cơ sở Hội nghị được tổ chức tại Hội trường UBND Đặc khu Phú Quý với sự tham dự của gần 100 đại biểu, gồm đại diện lãnh đạo UBND đặc khu; công chức tư pháp – hộ tịch; đại diện các ban, ngành, đoàn thể; tuyên truyền viên pháp luật và đội ngũ hòa giải viên ở cơ sở. Một số hình ảnh tại Hội nghị Tại hội nghị, báo cáo viên pháp luật của Sở Tư pháp đã triển khai 04 chuyên đề trọng tâm theo Chương trình khung bồi dưỡng của Bộ Tư pháp, gồm: (1) những kiến thức chung về hòa giải ở cơ sở; (2) các quy định pháp luật liên quan trực tiếp đến hoạt động hòa giải như pháp luật về hôn nhân và gia đình, dân sự, hình sự, hộ tịch; (3) kỹ năng, nghiệp vụ hòa giải ở cơ sở; (4) trao đổi, kiểm tra, đánh giá kết quả tiếp thu. Nội dung tập huấn được xây dựng sát với thực tiễn, tập trung vào các tình huống thường gặp như tranh chấp đất đai, mâu thuẫn gia đình, xích mích trong cộng đồng dân cư. Qua đó, giúp các hòa giải viên nâng cao kỹ năng lắng nghe, phân tích, vận dụng đúng quy định pháp luật để giải quyết vụ việc bảo đảm thấu tình, đạt lý. Báo cáo viên cấp tỉnh trình bày tại hội nghị Trong khuôn khổ hội nghị, các đại biểu đã tích cực trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn, giới thiệu những mô hình hay, cách làm hiệu quả trong công tác hòa giải ở cơ sở. Đây là dịp quan trọng để nâng cao năng lực, kỹ năng cho đội ngũ hòa giải viên, góp phần xây dựng môi trường sống hài hòa, đoàn kết trong cộng đồng dân cư. Các hòa giải viên tích cực trao đổi, thảo luận các tình huống thực tiễn trong công tác hòa giải ở cơ sở Thông qua hội nghị, kiến thức pháp luật và kỹ năng nghiệp vụ của đội ngũ hòa giải viên tiếp tục được củng cố, góp phần nâng cao tỷ lệ hòa giải thành, phấn đấu đạt từ 85% trở lên theo kế hoạch đề ra. Đồng thời, hoạt động này góp phần giữ gìn tình làng, nghĩa xóm, phát huy truyền thống đoàn kết, tương thân tương ái trong cộng đồng, hạn chế phát sinh tranh chấp, vi phạm pháp luật, bảo đảm an ninh, trật tự tại địa phương. Trong thời gian tới, Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng sẽ tiếp tục tăng cường hướng dẫn, kiểm tra và hỗ trợ UBND cấp xã nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác hòa giải ở cơ sở trên địa bàn toàn tỉnh. Đinh Trúc – Phổ biến, giáo dục pháp luật
16:18 19/05/2026
96
Tình huống: nguy cơ đỗ vỡ gia đình vì cá cược bóng đá
Tải PDF
09:11 15/05/2026
116
Quy định mới về công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới giai đoạn 2026 – 2030
Ngày 28/4/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 19/2026/QĐ-TTg quy định điều kiện, trình tự, thủ tục, hồ sơ xét công nhận, công bố và thu hồi quyết định công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới (NTM), xã đạt NTM hiện đại và tỉnh, thành phố hoàn thành nhiệm vụ xây dựng NTM giai đoạn 2026 - 2030. Quyết định có hiệu lực thi hành từ ngày 28/4/2026 và là căn cứ quan trọng để các địa phương trên cả nước triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn mới. Theo đó, xã đạt chuẩn nông thôn mới phải đáp ứng đủ tiêu chí và được người dân đồng thuận, để được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới, xã phải đáp ứng hai điều kiện bắt buộc: Thứ nhất: Đạt đầy đủ Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2026 – 2030. Các tiêu chí bao gồm nhiều lĩnh vực như: Quy hoạch; Giao thông nông thôn; Trường học; Cơ sở vật chất văn hóa; Nhà ở dân cư; Thu nhập; Tỷ lệ hộ nghèo; Y tế; Giáo dục; Môi trường; Quốc phòng, an ninh; Chuyển đổi số, cải cách hành chính… Điều này nhằm bảo đảm xã nông thôn mới không chỉ phát triển về hạ tầng mà còn nâng cao đời sống toàn diện cho người dân. Thứ hai: Người dân phải hài lòng về kết quả xây dựng nông thôn mới Đây là điểm rất quan trọng của Quyết định mới. Việc lấy ý kiến hài lòng của người dân trên địa bàn xã sẽ được thực hiện theo hướng dẫn của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Nói cách khác, xã muốn đạt chuẩn không chỉ cần “đạt chỉ tiêu trên giấy tờ”, mà người dân phải thực sự cảm nhận được cuộc sống tốt hơn, môi trường tốt hơn, giao thông thuận tiện hơn, thu nhập cải thiện hơn. Tuyến đường giao thông nông thôn được bê tông hóa, cảnh quan xanh mát, góp phần xây dựng diện mạo nông thôn mới văn minh, hiện đại. Xã nông thôn mới hiện đại là bước phát triển cao hơn: Ngoài danh hiệu xã đạt chuẩn NTM, Quyết định còn quy định việc công nhận xã đạt nông thôn mới hiện đại. Đây là mô hình phát triển cao hơn, hướng tới: Hạ tầng hiện đại, đồng bộ; Môi trường sống xanh, sạch, đẹp; Chính quyền số, dịch vụ công trực tuyến; Kinh tế nông thôn phát triển bền vững; Đời sống văn hóa phong phú; Người dân có thu nhập cao hơn, chất lượng sống tốt hơn; Xã đạt NTM hiện đại cũng phải được người dân hài lòng. Quy trình xét công nhận công khai, dân chủ, minh bạch: Để được công nhận đạt chuẩn, xã phải trải qua nhiều bước chặt chẽ. Bước 1: Xã tự đánh giá kết quả thực hiện UBND xã lập báo cáo kết quả xây dựng nông thôn mới và chuẩn bị hồ sơ, tài liệu chứng minh. Bước 2: Các sở, ngành cấp tỉnh thẩm tra Những cơ quan phụ trách từng tiêu chí sẽ kiểm tra thực tế, xác nhận xã đạt hay chưa đạt. Bước 3: Công khai để Nhân dân biết và góp ý Báo cáo phải được niêm yết công khai tại: Trụ sở UBND xã; Nhà văn hóa thôn, bản; Hệ thống truyền thanh xã; Các kênh thông tin địa phương; Thời gian công khai tối thiểu 10 ngày. Bước 4: Lấy ý kiến sự hài lòng của người dân Đây là bước bắt buộc trước khi đề nghị công nhận. Bước 5: Hội đồng thẩm định cấp tỉnh họp xét Nếu đủ điều kiện, Chủ tịch UBND cấp tỉnh ban hành quyết định công nhận. Có thể bị thu hồi danh hiệu nếu không duy trì chất lượng: Một nội dung đáng chú ý là sau khi được công nhận, xã vẫn phải tiếp tục duy trì tiêu chí. Nếu xã xuống chất lượng, không còn đạt chuẩn thì có thể bị thu hồi quyết định công nhận. Ví dụ: Không đạt từ 04 tiêu chí trở lên; Nhiều nội dung tiêu chí bị giảm sút nghiêm trọng; Qua kiểm tra, thanh tra phát hiện không bảo đảm thực chất. Điều này giúp tránh tình trạng “chạy theo thành tích”, được công nhận xong rồi bỏ bê. Ngoài cấp xã, Quyết định cũng quy định điều kiện để tỉnh, thành phố được công nhận hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới. Thẩm quyền công nhận thuộc Thủ tướng Chính phủ. Địa phương phải bảo đảm: Tỷ lệ xã đạt chuẩn cao; Hệ thống hạ tầng đồng bộ; Kinh tế nông thôn phát triển; Người dân hài lòng về kết quả xây dựng NTM. Quyết định số 19/2026/QĐ-TTg cho thấy xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2026 - 2030 sẽ chuyển mạnh từ số lượng sang chất lượng, từ “đạt chuẩn” sang “phát triển bền vững”. Trong đó, người dân không chỉ là đối tượng thụ hưởng mà còn là người trực tiếp đánh giá kết quả. Người dân tại các xã đang xây dựng nông thôn mới cần: Tích cực tham gia góp ý kiến tại địa phương; Giám sát việc thực hiện các công trình, dự án; Giữ gìn vệ sinh môi trường, cảnh quan nông thôn; Đồng hành cùng chính quyền xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp. Xây dựng nông thôn mới không chỉ là làm đường, xây trường hay dựng cổng chào, mà quan trọng nhất là nâng cao chất lượng sống của người dân. Với Quyết định số 19/2026/QĐ-TTg, việc xét công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới trong giai đoạn mới sẽ chặt chẽ hơn, thực chất hơn và lấy sự hài lòng của Nhân dân làm thước đo trung tâm. Đỗ Toàn – Phòng PBGDPL
14:25 07/05/2026
720
Mối quan hệ giữa công tác dân vận và hòa giải ở cơ sở
Trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta luôn quán triệt quan điểm “dân là gốc”, “cách mạng là sự nghiệp của quần chúng Nhân dân”, Nhân dân vừa là chủ thể, vừa là mục tiêu, động lực của cách mạng và xác định công tác dân vận là vấn đề có tính chiến lược, là điều kiện quan trọng củng cố và tăng cường mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân. Thu phục được lòng dân, làm cho dân tin, dân theo thì việc khó mấy cũng thành công. Đó chính là kinh nghiệm của cha ông ta trong lịch sử được Bác Hồ đúc kết thành quan điểm “Dân vận khéo thì việc khó mấy cũng thành công”. Hòa giải ở cơ sở là phương thức giải quyết mâu thuẫn, xích mích, tranh chấp ở cộng đồng dân cư, hòa giải ở cơ sở tại Việt Nam hình thành từ rất sớm, như một truyền thống văn hóa trong đời sống của người Việt, được củng cố và phát triển từ thời kỳ phong kiến đến nay. Hòa giải thành sẽ hàn gắn và khôi phục tình cảm giữa các bên tranh chấp, giúp duy trì mối quan hệ đoàn kết, gắn bó trong cộng đồng. Do đó, hòa giải ở cơ sở là chổ dựa cho việc tổ chức một xã hội đoàn kết, hòa hợp, đồng thuận, người dân tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, tạo tiền đề cho ổn định chính trị và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Vì lẽ đó, hòa giải ở cơ sở không chỉ là phương thức giải quyết tranh chấp có hiệu quả mà còn là một phương thức an dân, vận động nhân dân phát huy sức mạnh trên cơ sở hòa hiếu, đồng thuận, đoàn kết, cùng thực hiện những nhiệm vụ cách mạng do Đảng và Nhà nước đề ra. Bà Phạm Thị Minh Hiếu, Phó Chủ tịch Hội đồng PHPBGDPL tỉnh - Phó Giám đốc Sở Tư pháp phát biểu tại Hội nghị tập huấn công tác Hòa giải ở cơ sở Có thể thấy, dân vận và hòa giải ở cơ sở có cùng ý nghĩa, chung mục đích. Đó là duy trì, củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc; phát huy sức mạnh to lớn, quyền làm chủ, vận động Nhân dân thực hiện tốt các chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, góp sức xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Công tác dân vận “là công việc của cả hệ thống chính trị, của mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, đoàn viên, hội viên các đoàn thể nhân dân”. Hòa giải ở cơ sở là việc của Hòa giải viên. Tuy nhiên, hòa giải ở cơ sở cũng là mối quan tâm sâu sắc, là trách nhiệm của hệ thống chính trị, trước hết là của Nhà nước và các tổ chức đoàn thể nhân dân. Điều này được khẳng định rõ tại Chương V Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 quy định về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong hoạt động hòa giải ở cơ sở. Ngoài ra, hòa giải viên của các tổ hòa giải chủ yếu là thành viên các cơ quan, tổ chức cấu thành hệ thống chính trị. Vì vậy, trong đa số các trường hợp, khi thực hiện hòa giải ở cơ sở, các hòa giải viên vừa thực hiện trách nhiệm hòa giải viên, vừa thực hiện trách nhiệm của người làm công tác dân vận. Công tác hòa giải ở cơ sở và công tác dân vận đều tuân thủ nguyên tắc tôn trọng ý chí, sự tự nguyện, không bắt buộc, áp đặt; bảo đảm phù hợp với chính sách, pháp luật của Nhà nước, đạo đức xã hội, phong tục, tập quán tốt đẹp của Nhân dân; phát huy tinh thần đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau với phương thức tuyên truyền, giáo dục, vận động, thuyết phục trên cơ sở gần dân, sát dân, hiểu dân, học dân. Báo cáo viên trao đổi các kỹ năng hòa giải với các hòa giải viên tại Hội nghị tập huấn Xét về mục đích, ý nghĩa xã hội, trách nhiệm, chủ thể, nguyên tắc, phương thức thực hiện thì hòa giải ở cơ sở là một bộ phận của công tác dân vận. Thực hiện tốt công tác hòa giải ở cơ sở là góp phần thực hiện tốt công tác dân vận và ngược lại. Kết quả của công tác hòa giải là một phần của kết quả công tác dân vận. Mục tiêu cao nhất và cuối cùng của công tác hòa giải là nhằm hóa giải các tranh chấp, giữ gìn, bảo vệ mối đoàn kết trong cộng đồng dân cư. Đây cũng chính là mục tiêu của công tác dân vận. Để thực hiện mục tiêu này, thì “dân vận khéo” được xác định là kim chỉ nam dẫn dắt, định hướng để triển khai công tác hòa giải, nghĩa là phải có quan điểm đúng đắn, tôn trọng, gắn bó mật thiết với Nhân dân, hết lòng hết sức phục vụ Nhân dân; đồng thời phải dày công, kiên trì, có nhiều hình thức, phương pháp khéo vận động một cách nhuần nhuyễn, phù hợp, hiệu quả nhất. Có như vậy, công tác hòa giải mới thực sự có ý nghĩa và đóng góp vào quá trình xây dựng cộng đồng, xã hội ổn định, trật tự, bền vững và phát triển. Tường Vy - Phòng PBGDPL
16:16 05/05/2026
133
Một số trường hợp di chúc đã được công chứng, chứng thực nhưng vẫn có thể bị tòa án tuyên vô hiệu
Theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015, di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Trong thực tế, nhiều người cho rằng chỉ cần di chúc được công chứng thì đương nhiên có giá trị pháp lý tuyệt đối. Tuy nhiên, trên thực tế quan điểm này chưa hoàn toàn chính xác, vì pháp luật vẫn quy định những trường hợp di chúc đã được công chứng có thể bị Tòa án tuyên vô hiệu nếu không đáp ứng các điều kiện hợp pháp. Cụ thể, theo quy định tại Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015, di chúc được coi là hợp pháp khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện: người lập di chúc phải minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; việc lập di chúc hoàn toàn tự nguyện; nội dung di chúc không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội; và hình thức di chúc phải phù hợp với quy định của pháp luật. Nếu một trong các điều kiện này không được bảo đảm, di chúc có thể bị tuyên vô hiệu dù đã được công chứng. Khách hàng đang thực hiện thủ tục tại Phòng Công chứng Thứ nhất, tại thời điểm lập di chúc người lập di chúc không minh mẫn, sáng suốt. Nếu có căn cứ chứng minh người lập di chúc đang mắc bệnh tâm thần, bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc không làm chủ được hành vi của mình, thì di chúc đó có thể bị Tòa án xem xét tuyên vô hiệu theo quy định của tại Điều 630 của Luật Dân sự năm 2015. Thứ hai, trường hợp việc lập di chúc không xuất phát từ ý chí tự nguyện. Theo quy định của pháp luật, nếu người lập di chúc bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép, dẫn đến việc định đoạt tài sản không phản ánh đúng ý chí thực sự của họ, thì di chúc có thể bị vô hiệu. Nguyên tắc tự nguyện là một trong những điều kiện cốt lõi để bảo đảm giá trị pháp lý của di chúc. Thứ ba, nội dung của di chúc vi phạm điều cấm của pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội. điển hình nhiều trường hợp việc định đoạt tài sản nhằm trốn tránh nghĩa vụ tài sản, hoặc đưa ra những điều kiện trái với chuẩn mực đạo đức xã hội, đều có thể khiến di chúc bị tuyên vô hiệu theo quy định pháp luật. Thứ tư, di chúc không tuân thủ đúng quy định về hình thức và thủ tục. Theo các quy định liên quan tại Điều 631 và Điều 633 của Bộ luật Dân sự 2015, di chúc phải bảo đảm các yếu tố về hình thức như chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc, người làm chứng (nếu có), cũng như trình tự công chứng hoặc chứng thực theo đúng quy định. Nếu các thủ tục này không được thực hiện đúng, di chúc có thể bị xem xét vô hiệu. Thứ năm, di chúc định đoạt tài sản không thuộc quyền sở hữu của người lập di chúc, chẳng hạn, trong trường hợp tài sản là tài sản chung của vợ chồng hoặc của nhiều người, người lập di chúc chỉ có quyền định đoạt phần tài sản thuộc sở hữu của mình. Nếu di chúc định đoạt toàn bộ tài sản chung mà không có sự đồng ý của các đồng sở hữu khác, phần vượt quá sẽ không được công nhận. Ngoài ra, theo Điều 643 của Bộ luật Dân sự 2015, di chúc cũng có thể không có hiệu lực trong một số trường hợp như: người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được chỉ định thừa kế không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế; hoặc tài sản để lại thừa kế không còn vào thời điểm mở thừa kế. Từ những quy định nêu trên cho thấy, việc công chứng di chúc giúp tăng tính xác thực và giá trị chứng cứ nhưng không phải là yếu tố mang tính tuyệt đối để di chúc luôn có hiệu lực pháp lý. Vì vậy, để hạn chế tranh chấp thừa kế có thể phát sinh, người dân khi lập di chúc cần bảo đảm các yếu tố như: minh mẫn, tự nguyện, nội dung hợp pháp và tuân thủ đúng quy định về hình thức, thủ tục. Bên cạnh đó, UBND các xã, phường và các tổ chức hành nghề công chứng cần phải tư vấn, giải thích rõ quy định pháp luật có liên quan đến các điều kiện lập di chúc, các quyền và nghĩa vụ của người lập di chúc khi có yêu cầu. Việc tìm hiểu và tuân thủ đúng quy định của pháp luật về thừa kế không chỉ giúp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan mà còn góp phần giữ gìn sự đoàn kết, hòa thuận trong gia đình và xã hội. Võ Luân - Phòng PBGDPL
10:41 17/03/2026
547
THỰC HIỆN TIÊU CHÍ BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT – CHUẨN TIẾP CẬN PHÁP LUẬT
Thực hiện Quyết định số 27/2025/QĐ-TTg ngày 04/8/2025 của Thủ Tướng Chính Phủ quy định về xã, phường, đặc khu đạt chuẩn tiếp cận pháp luật và Thông tư 15/2025/TT-BTP ngày 11/9/2025 của Bộ Tư Pháp hướng dẫn thi hành Quyết định số 27/2025/QĐ-TTg ngày 04/8/2025 của Thủ Tướng Chính Phủ quy định về xã, phường, đặc khu đạt chuẩn tiếp cận pháp luật. Theo đó, quy định tiêu chí tiếp cận pháp luật theo hướng tinh gọn gồm 03 tiêu chí và 14 chỉ tiêu thành phần, tập trung vào những lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của ngành Tư pháp; Các xã, phường, đặc khu để đạt chuẩn tiếp cận pháp luật cấp xã thì phải đạt đủ 03 tiêu chí và 14 chỉ tiêu tiếp cận pháp luật. Sở Tư pháp tập huấn tuyên truyền pháp luật về chuẩn tiếp cận pháp luật Đối với tiêu chí 1 Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, đây là tiêu chí có 3 chỉ tiêu thực hiện và tiêu chí “Ban hành văn bản quy phạm pháp luật” chỉ được đánh giá ĐẠT khi cả 03 chỉ tiêu trong tiêu chí này được đánh giá đạt. 1. Chỉ tiêu 1: Văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND cấp xã được ban hành đúng thời hạn và đúng quy định của pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Chỉ tiêu này được đánh giá là đạt khi 100% Nghị quyết của HĐND, Quyết định của UBND cấp xã được ban hành đúng thời hạn và đúng quy định của pháp luật về ban hành VBQPPL. Nội dung thực hiện: Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền cấp xã theo quy định (gồm Nghị quyết của HĐND cấp xã và Quyết định của UBND cấp xã). Cách đánh giá: Tỷ lệ % = (Tổng số Nghị quyết của HĐND, Quyết định của UBND cấp xã được ban hành đúng thời hạn và đúng quy định của pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật, không bị cơ quan có thẩm quyền xử lý hoặc kiến nghị xử lý do trái với quy định pháp luật/Tổng số Nghị quyết của HĐND, Quyết định của UBND cấp xã phát sinh trong năm đánh giá phải ban hành) x 100 – Nếu đạt tỷ lệ 100% thì xác định đạt chỉ tiêu này. * Hồ sơ, tài liệu kiểm chứng: Chứng minh cho việc ban hành Nghị quyết của HĐND cấp xã và Quyết định của UBND cấp xã đúng thời hạn và đúng quy định của pháp luật. Văn bản của Chủ tịch UBND dân cấp xã phân công cơ quan chủ trì soạn thảo (khoản 1 Điều 52 và khoản 1 Điều 57 Nghị định số 78/2025/NĐ-CP ngày 01/4/2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 187/2025/NĐ-CP; Hồ sơ trình dự thảo thể hiện đảm bảo đầy đủ trình tự, thủ tục theo quy định từ Điều 52 đến Điều 59 Nghị định số 78/2025/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 187/2025/NĐ-CP: Tài liệu chứng minh hình thức lấy ý kiến theo quy định tại khoản 4 Điều 2 Nghị định số 78/2025/NĐ-CP; Bản tổng hợp ý kiến, tiếp thu, giải trình ý kiến góp ý (Trừ trường hợp áp dụng theo trình tự, thủ tục rút gọn); Báo cáo thẩm định; Báo cáo tiếp thu, giải trình ý kiến thẩm định; Báo cáo thẩm tra (đối với dự thảo Nghị quyết) - Văn bản QPPL được ban hành. 2. Chỉ tiêu 2: Dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND cấp xã được truyền thông trong quá trình xây dựng theo quy định của pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật Chỉ tiêu này được đánh giá là đạt khi 100% dự thảo Nghị quyết của HĐND, Quyết định của UBND cấp xã được truyền thông trong quá trình xây dựng theo quy định của pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Nội dung thực hiện: Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ truyền thông dự thảo Nghị quyết của HĐND cấp xã và Quyết định của UBND cấp xã trong quá trình xây dựng theo quy định. Cách đánh giá: Tỷ lệ % = (Tổng số dự thảo Nghị quyết của HĐND, Quyết định của UBND cấp xã được truyền thông trong quá trình xây dựng theo quy định/Tổng số Nghị quyết của HĐND, Quyết định của UBND cấp xã phát sinh trong năm đánh giá phải ban hành) x 100 - Nếu đạt tỷ lệ 100% thì xác định đạt chỉ tiêu này. * Hồ sơ, tài liệu kiểm chứng: Chứng minh cho việc ban hành Nghị quyết của HĐND cấp xã và Quyết định của UBND cấp xã được truyền thông trong quá trình xây dựng theo quy định của pháp luật. Văn bản chứng minh cơ quan chủ trì soạn thảo đã xây dựng nội dung truyền thông (Điều 3 Nghị định số 78/2025/NĐ-CP); văn bản cơ quan chủ trì soạn thảo gửi cơ quan có chức năng truyền thông (nếu có). Các loại tài liệu như ảnh chụp/đường link đã thực hiện truyền thông bằng hình thức phù hợp. (Trừ trường hợp áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn thì không bắt buộc phải thực hiện truyền thông). 3. Chỉ tiêu 3: Thực hiện tự kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND cấp xã theo quy định của pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Chỉ tiêu này được đánh giá là đạt khi 100% Nghị quyết của HĐND, Quyết định của UBND cấp xã được thực hiện tự kiểm tra theo quy định của pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Nội dung thực hiện: Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ tự kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền cấp xã theo quy định (gồm Nghị quyết của HĐND cấp xã và Quyết định của UBND cấp xã); Căn cứ thực hiện theo quy định tại Nghị định số 79/2025/NĐ-CP ngày 01/4/2025 của Chính phủ về kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa và xử lý VBQPPL (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 187/2025/NĐ-CP). Cách đánh giá: Tỷ lệ % = (Tổng số Nghị quyết của HĐND, Quyết định của UBND cấp xã được thực hiện tự kiểm tra theo quy định/Tổng số Nghị quyết của HĐND, Quyết định của UBND cấp xã phải thực hiện tự kiểm tra theo quy định trong năm đánh giá) x 100 - Nếu đạt tỷ lệ 100% thì xác định đạt chỉ tiêu này. * Hồ sơ, tài liệu kiểm chứng: Chứng minh cho việc ban hành Nghị quyết của HĐND cấp xã và Quyết định của UBND cấp xã được thực hiện tự kiểm tra theo quy định của pháp luật. Có báo cáo kết quả tự kiểm tra theo khoản 3 Điều 12 Nghị định 79/2025/NĐ-CP. Ngọc Thủy – phòng PBGDPL
10:14 16/03/2026
333
Tranh chấp đất đai – Có bắt buộc phải hòa giải tại UBND cấp xã trước khi khởi kiện?
Đất đai là tài sản có giá trị, là nguồn tư liệu sản xuất cơ bản của xã hội, gắn liền với quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi cá nhân, tổ chức. Các vụ việc tranh chấp về quyền sử dụng đất luôn chiếm tỷ lệ lớn trong các vụ việc tranh chấp dân sự, thường xuyên kéo dài và có nguy cơ gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội, ảnh hưởng đến đoàn kết cộng đồng. Trong bối cảnh đó, hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân dân (UBND) cấp có thẩm quyền được xem là phương án đầu tiên và quan trọng nhất để hóa giải mâu thuẫn tranh chấp đất đai ngay từ cơ sở, giảm tải gánh nặng cho cơ quan Tòa án, cũng là điều kiện tiên quyết trước khi người tranh chấp khởi kiện vụ án tranh chấp đất đai tại Tòa án. Theo Luật Đất đai 2024 thì tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai. Việc hòa giải tranh chấp đất đai thực hiện theo quy định tại Điều 235 và Điều 236 Luật Đất đai 2024. Trong đó, Điều 235 Luật Đất đai 2024 quy định: “Điều 235. Hòa giải tranh chấp đất đai 1. Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải, hòa giải ở cơ sở theo quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở, hòa giải theo quy định của pháp luật về hòa giải thương mại hoặc cơ chế hòa giải khác theo quy định của pháp luật. 2. Trước khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai quy định tại Điều 236 của Luật này, các bên tranh chấp phải thực hiện hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp.” Như vậy, khi xảy ra tranh chấp đất đai trên thực tế nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp thông qua hòa giải ở cơ sở (thôn, bon, ấp, bản, tổ dân phố). Việc hòa giải ở giai đoạn này là tự nguyện, không phải là điều kiện tiên quyết, bắt buộc trước khi khởi kiện vụ án dân sự. Tuy nhiên, Luật Đất đai 2024 quy định rõ các trường hợp tranh chấp đất đai thuộc Điều 236 Luật Đất đai trước khi cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp thì bắt buộc phải hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp: “1. Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp hoặc một trong các bên tranh chấp có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 137 của Luật Đất đai và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất; 2. Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 137 của Luật Đất đai”. Ngoài ra, Khoản 2 Điều 3 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 hướng dẫn quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự 92/2015/QH13 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án do Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành quy định loại trừ điều kiện bắt buộc hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp: “2. Đối với tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất mà chưa được hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp theo quy định tại Điều 202 Luật đất đai năm 2013 thì được xác định là chưa có đủ điều kiện khởi kiện quy định tại điểm b khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Đối với tranh chấp khác liên quan đến quyền sử dụng đất như: tranh chấp về giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất, tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất, chia tài sản chung của vợ chồng là quyền sử dụng đất,... thì thủ tục hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp không phải là điều kiện khởi kiện vụ án.” Như vậy, Biên bản hòa giải (thành hoặc không thành) tại UBND cấp xã là một thành phần không thể thiếu trong hồ sơ khởi kiện các vụ việc tranh chấp đất đai tại Tòa án. Nếu người khởi kiện nộp đơn ra Tòa mà không kèm theo Biên bản hòa giải tại xã, Tòa án sẽ trả lại đơn khởi kiện với lý do chưa đủ điều kiện khởi kiện theo quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành Đối với một số tranh chấp khác liên quan đến quyền sử dụng đất như: tranh chấp về giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất, tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất, chia tài sản chung của vợ chồng là quyền sử dụng đất,.... thì không bắt buộc phải hòa giải tại UBND cấp xã trước khi khởi kiện vụ án/. Minh Hiền (Phòng Quản lý XLVPHC và TDTHPL)
09:48 26/02/2026
3062
Lâm Đồng quyết tâm giảm nghèo đa chiều bền vững năm 2026
Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã ban hành Kế hoạch số 1477/KH-UBND ngày 30/01/2026 về thực hiện chuẩn nghèo đa chiều năm 2026 trên địa bàn tỉnh. Đây là bước triển khai quan trọng, thể hiện quyết tâm chính trị cao của tỉnh trong công tác giảm nghèo bền vững, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm an sinh xã hội và từng bước nâng cao đời sống Nhân dân. ( Cung cấp dịch vụ y tế chăm sóc sức khỏe cho nhân dân) Theo Kế hoạch, năm 2026, tỉnh Lâm Đồng phấn đấu giảm tỷ lệ nghèo đa chiều từ 1,0 – 1,5%, tương ứng giảm từ khoảng 9.000 đến 13.400 hộ nghèo đa chiều. Riêng đối với đồng bào dân tộc thiểu số, mục tiêu giảm nghèo được đặt ra ở mức cao hơn, với tỷ lệ giảm từ 2 – 3%, tương ứng giảm từ 3.135 đến 4.690 hộ nghèo đa chiều, qua đó từng bước thu hẹp khoảng cách về mức sống giữa các vùng miền và nhóm dân cư. Thực hiện chuẩn nghèo đa chiều, tỉnh Lâm Đồng không chỉ chú trọng tiêu chí thu nhập mà còn tập trung giảm thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản như việc làm, y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch, vệ sinh và thông tin. Theo đó, 100% hộ nghèo, hộ cận nghèo thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản sẽ được hỗ trợ tiếp cận, tạo điều kiện cải thiện chất lượng cuộc sống một cách toàn diện, bền vững. (Người dân đa dạng sinh kế thoát nghèo bền vững) Cùng với việc bảo đảm an sinh xã hội, tỉnh Lâm Đồng đặc biệt chú trọng các giải pháp hỗ trợ phát triển sản xuất, đa dạng sinh kế, đào tạo nghề và giải quyết việc làm. Kế hoạch đặt mục tiêu 100% hộ nghèo, hộ cận nghèo đủ điều kiện và có nhu cầu được tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi để phát triển sản xuất, kinh doanh; 100% người nghèo trong độ tuổi lao động có nhu cầu được hỗ trợ đào tạo nghề, tư vấn, định hướng và giới thiệu việc làm, qua đó nâng cao thu nhập, hạn chế tái nghèo. Đồng thời, tỉnh tiếp tục lồng ghép hiệu quả các Chương trình mục tiêu quốc gia, ưu tiên đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng tại các địa bàn nghèo, thôn, buôn, bản đặc biệt khó khăn, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Một điểm nhấn nổi bật trong Kế hoạch năm 2026 là việc giao chỉ tiêu giảm nghèo cụ thể đến từng xã, phường, đặc khu, bảo đảm rõ trách nhiệm, rõ địa chỉ và nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện. Theo kế hoạch đầu năm 2026, toàn tỉnh có 28.512 hộ nghèo đa chiều, trong đó 13.705 hộ là đồng bào dân tộc thiểu số; đến cuối năm, dự kiến giảm còn 19.512 hộ, tương ứng tỷ lệ 2,18%. Trong đó, các xã Đam Rông 1, 2, 3, 4 được xác định là địa bàn trọng điểm giảm nghèo của tỉnh. Riêng xã Đam Rông 4, đầu năm 2026 có 255 hộ nghèo đa chiều, chiếm 8,36% tổng số hộ, trong đó 254 hộ là đồng bào dân tộc thiểu số. Năm 2026, xã phấn đấu giảm 55 hộ nghèo, đưa tỷ lệ nghèo xuống còn 6,55%, thể hiện quyết tâm rõ nét trong việc kéo giảm nghèo tại địa bàn đặc biệt khó khăn. Tại xã Sơn Điền, đầu năm 2026 có 199 hộ nghèo đa chiều, chiếm 12,34%, trong đó 191 hộ là đồng bào dân tộc thiểu số. Theo chỉ tiêu được giao, xã phấn đấu giảm 24 hộ nghèo trong năm 2026, từng bước đưa tỷ lệ nghèo xuống còn 10,85%, góp phần cải thiện đời sống người dân vùng sâu, vùng xa. Để hoàn thành các mục tiêu đề ra, UBND tỉnh Lâm Đồng yêu cầu các cấp ủy đảng, chính quyền, sở, ban, ngành và địa phương xác định công tác giảm nghèo bền vững là nhiệm vụ trọng tâm, tăng cường phối hợp, kiểm tra, giám sát; đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền, khơi dậy ý chí tự lực, tự cường, vươn lên thoát nghèo của người dân. Với sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị và sự đồng thuận của Nhân dân, Kế hoạch thực hiện chuẩn nghèo đa chiều năm 2026 được kỳ vọng sẽ tạo chuyển biến rõ nét trong công tác giảm nghèo, góp phần xây dựng tỉnh Lâm Đồng phát triển bền vững, bao trùm và không để ai bị bỏ lại phía sau. Ngọc Thủy – Phòng PBGDPL
08:53 06/02/2026
451
Trang
1234
Liên kết
Thống kê truy cập
  • Đang online: 50
  • Hôm nay: 3935
  • Trong tuần: 27106
  • Trong tháng: 77519
  • Tổng truy cập: 188894