XIN NHẬP QUỐC TỊCH VIỆT NAM NHƯNG VẪN MUỐN GIỮ QUỐC TỊCH NƯỚC NGOÀI, CÓ ĐƯỢC KHÔNG?

10:56 28/08/2026

Trường hợp của bà Phương, là công dân Việt Nam, có chồng là người Pháp. Hai vợ chồng đã sinh sống ổn định, lâu dài tại Việt Nam gần 15 năm và hiện đang sinh sống tại tỉnh Lâm Đồng. Trong quá trình tìm hiểu về thủ tục quốc tịch, bà Phương muốn hỏi: Chồng bà là người Pháp, đã sinh sống lâu dài tại Việt Nam, nay muốn xin nhập quốc tịch Việt Nam nhưng vẫn giữ quốc tịch Pháp thì có được không? Nếu được thì cần đáp ứng những điều kiện gì và hồ sơ phải nộp ở đâu? Đây cũng là vấn đề được nhiều người quan tâm khi người nước ngoài có thời gian sinh sống lâu dài, có quan hệ hôn nhân, gia đình và gắn bó với Việt Nam nhưng vẫn mong muốn duy trì quốc tịch nước ngoài. Trả lời: Thứ nhất, chồng bà Phương có được xin nhập quốc tịch Việt Nam không? Theo Điều 19 Luật Quốc tịch Việt Nam, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 79/2025/QH15, người nước ngoài có đơn xin nhập quốc tịch Việt Nam có thể được xem xét nhập quốc tịch nếu đáp ứng các điều kiện theo quy định. Đáng chú ý, pháp luật mới quy định người xin nhập quốc tịch Việt Nam có vợ hoặc chồng là công dân Việt Nam thuộc trường hợp được miễn một số điều kiện về nhập quốc tịch, trong đó không phải đáp ứng điều kiện về biết tiếng Việt, thời gian thường trú từ 05 năm trở lên và khả năng bảo đảm cuộc sống tại Việt Nam theo quy định chung. Như vậy, nếu chồng bà Phương là người Pháp và có quan hệ hôn nhân hợp pháp với bà Phương (là công dân Việt Nam) thì ông thuộc trường hợp được pháp luật tạo điều kiện thuận lợi hơn khi xin nhập quốc tịch Việt Nam. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng việc đã sinh sống tại Việt Nam gần 15 năm không tự động đồng nghĩa với việc đã đáp ứng mọi điều kiện về cư trú. Theo Nghị định số 191/2025/NĐ-CP, người xin nhập quốc tịch Việt Nam thuộc trường hợp có vợ hoặc chồng là công dân Việt Nam vẫn phải đáp ứng điều kiện đang thường trú tại Việt Nam (Có thẻ thường trú); việc có được miễn điều kiện về thời gian thường trú 05 năm, không đồng nghĩa với việc được miễn yêu cầu đang thường trú. Do đó, việc xin nhập quốc tịch Việt Nam của chồng bà Phương là có thể. Thứ hai, chồng bà Phương có được giữ quốc tịch Pháp khi xin nhập quốc tịch Việt Nam không? Có thể được xem xét giữ quốc tịch Pháp, nhưng không phải đương nhiên được giữ. Theo khoản 6 Điều 19 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2025, người xin nhập quốc tịch Việt Nam thuộc các trường hợp được luật quy định, trong đó có trường hợp có vợ hoặc chồng là công dân Việt Nam, có thể được giữ quốc tịch nước ngoài nếu đáp ứng các điều kiện: Việc giữ quốc tịch nước ngoài phù hợp với pháp luật của nước đó; Việc sử dụng quốc tịch nước ngoài không được gây phương hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; không xâm hại an ninh, lợi ích quốc gia, trật tự, an toàn xã hội của Việt Nam; và được Chủ tịch nước cho phép. Đối với trường hợp cụ thể của chồng bà Phương, pháp luật Pháp cho phép một người có thể có nhiều quốc tịch; do đó, về nguyên tắc, việc giữ quốc tịch Pháp không trái với pháp luật Pháp. Tuy nhiên, khi giải quyết hồ sơ tại Việt Nam vẫn phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện của pháp luật Việt Nam quy định và phải được Chủ tịch nước cho phép. Thứ ba, để xin nhập quốc tịch Việt Nam đồng thời giữ quốc tịch Pháp cần những giấy tờ gì? Theo khoản 3 Điều 13 Nghị định số 191/2025/NĐ-CP, người xin nhập quốc tịch Việt Nam đồng thời xin giữ quốc tịch nước ngoài phải có: Giấy tờ chứng minh việc giữ quốc tịch nước ngoài phù hợp với pháp luật nước đó và bản cam kết theo quy định. Nếu người xin nhập quốc tịch Việt Nam đồng thời xin giữ quốc tịch nước ngoài không đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo khoản 6 Điều 19 Luật Quốc tịch Việt Nam, thì phải thực hiện thủ tục thôi quốc tịch nước ngoài theo quy định. Thứ tư, hồ sơ được nộp ở đâu? Theo quy định hiện hành, người xin nhập quốc tịch Việt Nam phải trực tiếp nộp hồ sơ tại Sở Tư pháp nơi mình cư trú. Đối với trường hợp chồng bà Phương đang cư trú tại tỉnh Lâm Đồng, hồ sơ được nộp tại Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng theo quy định về thẩm quyền và trình tự giải quyết hồ sơ quốc tịch. Công dân đến liên hệ Bộ phận một cửa Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng để được tư vấn thực hiện thủ tục về quốc tịch Kể từ khi Luật Quốc tịch sửa đổi năm 2025 có hiệu lực, Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng đã tiếp nhận và hướng dẫn nhiều trường hợp người dân đến tìm hiểu về thủ tục quốc tịch, trong đó có việc xin nhập quốc tịch Việt Nam và giữ quốc tịch nước ngoài. Qua thực tế hướng dẫn, nhiều trường hợp chưa đáp ứng đầy đủ điều kiện để được giữ quốc tịch nước ngoài. Từ những vướng mắc phát sinh trong thực tiễn, ngày 27/8/2026, Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng đã lồng ghép nội dung giải đáp các vấn đề thường gặp trong lĩnh vực quốc tịch vào Hội nghị tập huấn chuyên sâu về giải quyết thủ tục hành chính, qua đó giúp các đại biểu tham dự nắm rõ hơn những quy định mới, cách xác định điều kiện và hướng xử lý đối với từng trường hợp cụ thể. Đây cũng là dịp để Sở Tư pháp trao đổi, thống nhất cách hiểu và nâng cao kỹ năng hướng dẫn, phối hợp giải quyết thủ tục quốc tịch tại cơ sở nếu có phát sinh. Đại biểu có ý kiến trao đổi về quốc tịch tại Hội nghị tập huấn ngày 27/8/2026 do Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng tổ chức Qua trường hợp trên cho thấy, mặc dù chính sách pháp luật về quốc tịch Việt Nam đã thông thoáng và linh hoạt hơn, tạo điều kiện cho một số trường hợp được nhập quốc tịch Việt Nam đồng thời giữ quốc tịch nước ngoài, nhưng vẫn bảo đảm các nguyên tắc về quốc tịch, an ninh, lợi ích quốc gia và trật tự, an toàn xã hội. Người xin nhập quốc tịch Việt Nam phải thuộc trường hợp luật định, đáp ứng đầy đủ các điều kiện, có giấy tờ chứng minh theo quy định và được Chủ tịch nước cho phép. Muốn nhập quốc tịch Việt Nam nhưng vẫn giữ quốc tịch nước ngoài — có thể được chấp thuận, nhưng không phải trường hợp nào cũng được phép. Do vậy, cần hiểu đúng pháp luật – chuẩn bị đúng hồ sơ – thực hiện đúng thủ tục. Khi có nhu cầu, người dân có thể liên hệ Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng để được hướng dẫn cụ thể theo quy định pháp luật hiện hành. Thúy Hà – phòng HCTP

Con riêng của vợ/chồng: Pháp luật quy định quyền và nghĩa vụ như thế nào?
Gia đình Việt Nam ngày nay không còn bó hẹp trong khuôn mẫu truyền thống một vợ, một chồng, một lứa con chung. Ngày càng nhiều người sau ly hôn hoặc góa bụa tìm đến hạnh phúc mới, mang theo con riêng về sống chung dưới một mái nhà với cha dượng, mẹ kế. Trong hành trình ấy, không ít câu hỏi được đặt ra: cha dượng, mẹ kế có bắt buộc phải nuôi dưỡng con riêng của vợ, chồng mình hay không? Con riêng có được thừa kế tài sản của cha dượng, mẹ kế sau này? Bài viết dưới đây sẽ giúp bạn đọc hiểu rõ quyền và nghĩa vụ giữa các bên theo quy định pháp luật hiện hành. Cha dượng, mẹ kế và con riêng: Quyền, nghĩa vụ phát sinh khi nào? Khác với quan hệ cha mẹ – con đẻ, quan hệ giữa cha dượng, mẹ kế với con riêng của vợ hoặc chồng không đương nhiên phát sinh khi cha mẹ tái hôn, mà chỉ phát sinh quyền và nghĩa vụ pháp lý khi hai bên cùng sống chung với nhau. Đây là điểm mà người dân cần đặc biệt lưu ý để tránh hiểu sai về pháp luật. Điều 79 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định cụ thể: cha dượng, mẹ kế có quyền và nghĩa vụ trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con riêng của bên kia cùng sống chung với mình theo quy định tại các Điều 69, 71 và 72 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; ngược lại, con riêng có quyền và nghĩa vụ chăm sóc, phụng dưỡng cha dượng, mẹ kế cùng sống chung với mình theo quy định tại Điều 70 và Điều 71 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Một số nội dung pháp lý cần lưu ý: - Về nghĩa vụ cấp dưỡng: cha dượng, mẹ kế không đương nhiên có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con riêng như cha, mẹ đẻ. Việc hỗ trợ tài chính, nếu có, mang tính tự nguyện hoặc theo thỏa thuận giữa các bên, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. - Về thời điểm chấm dứt: khi cha, mẹ ly hôn hoặc không còn sống chung, quan hệ cùng sống chung giữa cha dượng, mẹ kế với con riêng chấm dứt, kéo theo nghĩa vụ trông nom, nuôi dưỡng theo Điều 79 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cũng chấm dứt, trừ khi các bên có thỏa thuận khác. - Về thừa kế: theo Điều 654 Bộ luật Dân sự 2015, con riêng và bố dượng, mẹ kế chỉ được thừa kế di sản của nhau (kể cả thừa kế thế vị) nếu có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con trên thực tế. Đây là quan hệ thừa kế có điều kiện, khác với thừa kế đương nhiên giữa cha mẹ đẻ và con đẻ. Ngoài ra, con riêng vẫn có thể được hưởng di sản nếu cha dượng, mẹ kế lập di chúc để lại tài sản cho mình. - Về cấm kết hôn: pháp luật nghiêm cấm việc kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa người đã từng là cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng (điểm d khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình 2014). Hành vi vi phạm có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định. Thu Yến – Phòng PBGDPL
14:07 13/07/2026
410
Có quyền thay đổi họ, tên và chữ đệm hay không?
Tên gọi không chỉ là dấu hiệu nhận biết của mỗi cá nhân mà còn gắn liền với danh dự, nhân phẩm và các quyền nhân thân được pháp luật bảo vệ. Trong thực tế, có những trường hợp tên gọi không phù hợp với giới tính, ngoại hình hoặc hoàn cảnh sống, gây ra nhiều khó khăn trong học tập, lao động và giao tiếp xã hội.
08:18 16/06/2026
640
Cách xử lý đối với trường hợp nhận con nuôi thực tế nhưng không khai báo với chính quyền địa phương
Hỏi đáp pháp luật: Cách xử lý đối với trường hợp nhận con nuôi thực tế nhưng không khai báo với chính quyền địa phương Sáu năm trước, vợ chồng ông Minh và bà Thu, nhận nuôi một bé gái bị bỏ rơi tại bệnh viện và đặt tên là An. Vì thiếu hiểu biết pháp luật lại sợ người đời dị nghị, ông bà lặng lẽ nuôi nấng An như con ruột mà không hề làm thủ tục đăng ký khai sinh hay khai báo với chính quyền. Đến khi An tròn 6 tuổi, chuẩn bị đi học, nhà trường yêu cầu bản sao Giấy khai sinh và Mã số định danh để hoàn thiện hồ sơ nhập học. Lúc này, hai vợ chồng mới biết sự thiếu hiểu biết năm xưa sẽ gây khó khăn cho con mình. MỘT SỐ CÂU HỎI ĐẶT RA 1. Câu hỏi: Tự ý đưa trẻ bị bỏ rơi tại bệnh viện về nuôi mà không đăng ký với cơ quan có thẩm quyền, quan hệ nuôi con nuôi của vợ chồng ông Minh có được pháp luật công nhận không ? Trả lời: Không. Việc tự ý nuôi dưỡng này chưa làm phát sinh quan hệ cha mẹ và con nuôi hợp pháp về mặt pháp lý. Căn cứ pháp lý: Theo Khoản 1 Điều 6 và Điều 22 Luật Nuôi con nuôi năm 2010, quan hệ cha mẹ và con hợp pháp chỉ chính thức phát sinh kể từ ngày giao nhận con nuôi và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền (UBND cấp xã) trao Giấy chứng nhận nuôi con nuôi. Áp dụng thực tế: Mặc dù vợ chồng ông Minh có công chăm sóc, yêu thương bé An suốt 6 năm như con ruột, nhưng vì xuất phát từ sự thiếu hiểu biết pháp luật, ông bà đã bỏ qua thủ tục khai báo trẻ bị bỏ rơi và thủ tục đăng ký nuôi con nuôi tại Ủy ban nhân dân cấp xã. Do đó, sự việc này chưa làm phát sinh quyền, nghĩa vụ pháp lý của cha mẹ nuôi và con nuôi theo quy định. 2. Câu hỏi: Trẻ bị mẹ ruột bỏ lại bệnh viện, không có Giấy chứng sinh thì vợ chồng ông Minh phải làm Giấy khai sinh cho bé An thế nào? Trả lời: Vì bé An thuộc diện trẻ bị bỏ rơi, đã được nuôi dưỡng thực tế 6 năm nhưng chưa được khai sinh và không có Giấy chứng sinh, thủ tục đăng ký khai sinh sẽ được thực hiện theo quy định đối với trẻ bị bỏ rơi tại Điều 14 Nghị định 123/2015/NĐ-CP và hướng dẫn tại Thông tư 04/2020/TT-BTP với các bước cụ thể như sau: Bước 1: Khai báo và xác nhận tình trạng trẻ bị bỏ rơi: Vợ chồng ông Minh phải đến UBND cấp xã nơi cư trú thực tế của bé An để khai báo về việc đang nuôi dưỡng trẻ bị bỏ rơi. UBND cấp xã sẽ phối hợp với Công an cấp xã tiến hành kiểm tra, xác minh và lập Biên bản xác nhận việc trẻ bị bỏ rơi (biên bản này ghi nhận rõ thời điểm phát hiện, thời gian và tình trạng nuôi dưỡng thực tế suốt 6 năm qua). Bước 2: Niêm yết công khai và xác minh thông tin: UBND cấp xã tiến hành niêm yết công khai tại trụ sở về việc trẻ bị bỏ rơi trong thời hạn 07 ngày liên tục. Đồng thời, cơ quan Công an sẽ tiến hành xác minh để đảm bảo đứa trẻ không phải là nạn nhân của các vụ chiếm đoạt, bắt cóc hoặc mua bán người. Bước 3: Thực hiện đăng ký khai sinh: Sau khi hết thời hạn niêm yết và có kết quả xác minh từ cơ quan Công an, công chức Văn phòng UBND xã phụ trách công tác tư pháp - hộ tịch sẽ tiến hành đăng ký khai sinh cho bé An. Về phần khai Cha, Mẹ: Căn cứ theo Khoản 2 Điều 15 Nghị định 123/2015/NĐ-CP, vì chưa xác định được cha, mẹ ruột, phần thông tin này trên Giấy khai sinh của An tạm thời để trống. Họ, quê quán, dân tộc của An sẽ được xác định theo thông tin của người đang tạm thời nuôi dưỡng (ông Minh hoặc bà Thu) theo yêu cầu của ông bà. Quốc tịch của bé được xác định là quốc tịch Việt Nam. 3. Câu hỏi: Làm sao để Giấy khai sinh của bé An có tên của ông Minh và bà Thu với tư cách là Cha, Mẹ? Trả lời: Để chính thức đứng tên là Cha và Mẹ nuôi trên Giấy khai sinh của bé An, thì vợ chồng ông Minh phải thực hiện các trình tự thủ tục sau: Bước 1: Đăng ký nhận nuôi con nuôi Sau khi bé An đã được cấp Giấy khai sinh (với phần ghi về cha mẹ còn để trống), vợ chồng ông Minh phải nộp hồ sơ xin nhận con nuôi tại UBND cấp xã nơi cư trú. Căn cứ Điều 9 và Điều 22 Luật Nuôi con nuôi năm 2010, sau khi kiểm tra đủ điều kiện, UBND cấp xã sẽ cấp Giấy chứng nhận nuôi con nuôi cho gia đình. Vì bé An mới 6 tuổi (dưới 9 tuổi) nên việc nhận nuôi hoàn toàn do vợ chồng ông Minh tự quyết định mà không cần văn bản đồng ý của trẻ (quy định tại Khoản 1 Điều 21 Luật Nuôi con nuôi chỉ bắt buộc áp dụng đối với trẻ từ đủ 9 tuổi trở lên). Bước 2: Ghi thông tin cha mẹ nuôi vào Giấy khai sinh Căn cứ pháp lý: Theo Khoản 3 Điều 14 Nghị định 123/2015/NĐ-CP, trường hợp trẻ chưa xác định được cha, mẹ mà sau đó được nhận làm con nuôi thì cha mẹ nuôi có quyền yêu cầu cơ quan đăng ký hộ tịch ghi tên mình vào phần khai về cha, mẹ trong Giấy khai sinh và Sổ đăng ký khai sinh của trẻ. BÀI HỌC RÚT RA: Đối với người dân: Khi phát hiện trẻ bị bỏ rơi hoặc có nguyện vọng nhận con nuôi, cần lập tức đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú để khai báo, phối hợp lập biên bản và thực hiện thủ tục đăng ký khai sinh, đăng ký nuôi con nuôi theo đúng trình tự pháp luật. Khẩu hiệu hành động: "Chung tay bảo vệ quyền trẻ em – Đăng ký hộ tịch kịp thời là trách nhiệm, là tình yêu thương của cha mẹ." Châu Vân – phòng HCTP
09:57 03/06/2026
987
Hỏi - Đáp về Ủy quyền Quyết Toán Thuế Thu Nhập Cá Nhân
Tải PDF
09:18 25/05/2026
282
Công dân việt nam có được mang hai quốc tịch không?
Tám năm trước, Tôi cùng chồng sang Pháp định cư khi con trai mới 6 tháng tuổi. Do nghĩ sẽ ở lại định cư tại Pháp nên tôi đã làm thủ tục thôi quốc tịch Việt Nam cho cả hai mẹ con. Tuy nhiên, sau biến động kinh doanh cuộc sống tại Pháp gặp nhiều khó khăn, vợ chồng tôi quyết định đưa con về Việt Nam lập nghiệp làm sao để con được học trường công, hưởng quyền lợi như trẻ em trong nước nhưng vẫn giữ được quốc tịch Pháp. Câu hỏi 1: Tôi Nghe nói Việt Nam chỉ cho phép một quốc tịch, điều này có đúng không? Trả lời: Theo Điều 4 Luật Quốc tịch Việt Nam quy định: “Về nguyên tắc, Nhà nước Việt Nam công nhận công dân Việt Nam có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam”. Tuy nhiên, pháp luật vẫn có những ngoại lệ cho phép công dân mang hai quốc tịch trong các trường hợp sau đây: “Trẻ em có cha mẹ thuộc hai quốc tịch khác nhau. (Điều 16) Người xin nhập hoặc trở lại quốc tịch Việt Nam được Chủ tịch nước cho phép giữ quốc tịch nước ngoài. (Khoản 3, Điều 19 và Khoản 5, Điều 23) Trẻ em thay đổi quốc tịch theo cha mẹ nhưng có thỏa thuận giữ quốc tịch cũ.” (Điều 35) Câu hỏi 2: "Nếu tôi xin trở lại quốc tịch Việt Nam, con trai tôi có được nhập tịch theo tôi không?"Trả lời: Chắc chắn được. Theo khoản 1 Điều 35 Luật Quốc tịch Việt Nam quy định: “1. Khi có sự thay đổi về quốc tịch do nhập, trở lại hoặc thôi quốc tịch Việt Nam của cha mẹ thì quốc tịch của con chưa thành niên sinh sống cùng với cha mẹ cũng được thay đổi theo quốc tịch của họ.” Câu hỏi 3: "Làm sao để con trai tôi vừa có quốc tịch Việt Nam, vừa giữ được quốc tịch Pháp?" Trả lời: Đây là điểm mấu chốt để đạt được "song tịch" hợp pháp cho cháu bé. Căn cứ Khoản 2, Điều 35 Luật Quốc tịch Việt Nam: “Khi chị Phương trở lại quốc tịch Việt Nam, cháu bé sẽ có quốc tịch Việt Nam theo mẹ. Để cháu giữ được quốc tịch Pháp, vợ chồng chị Phương cần lập một Văn bản thỏa thuận đồng ý cho con có quốc tịch Việt Nam nhưng đồng thời xác nhận nguyện vọng giữ quốc tịch Pháp. Nếu không có văn bản thỏa thuận này, về mặt nguyên tắc pháp lý, cháu sẽ mặc nhiên chỉ mang quốc tịch Việt Nam theo mẹ”. Câu hỏi 4: "Riêng đối với tôi, khi trở lại quốc tịch Việt Nam có bắt buộc phải bỏ quốc tịch Pháp không?" Trả lời: Theo Điều 23 Luật Quốc tịch Việt Nam quy định: “Người xin trở lại quốc tịch Việt Nam về nguyên tắc phải thôi quốc tịch nước ngoài, trừ trường hợp đặc biệt được Chủ tịch nước cho phép giữ quốc tịch nước ngoài. Để được giữ quốc tịch Pháp khi trở lại quốc tịch Việt Nam, ông/bà cần đáp ứng đồng thời các điều kiện sau: Có cha đẻ, mẹ đẻ, vợ, chồng hoặc con đẻ là công dân Việt Nam. Việc giữ quốc tịch Pháp phải phù hợp với pháp luật của Pháp (hiện tại Pháp cho phép đa quốc tịch). Việc giữ hai quốc tịch không gây phương hại đến an ninh, lợi ích quốc gia của Việt Nam. Phải đang cư trú tại Việt Nam (theo quy định tại Nghị định 16/2020/NĐ-CP).” Châu Vân, HCTP
10:08 27/03/2026
9879
Quyền được thăm nom, chăm sóc con sau ly hôn
Hỏi: Tôi và chồng cũ đã ly hôn theo bản án của Tòa án, trong đó giao con cho chồng cũ trực tiếp nuôi dưỡng, tôi có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con đến khi trưởng thành. Sau ly hôn, tôi đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định. Tuy nhiên, mỗi lần tôi đến thăm con thì chồng cũ không cho gặp, thậm chí còn có lời lẽ xúc phạm tôi. Xin hỏi, theo quy định của pháp luật, chồng cũ có quyền ngăn cản tôi thăm nom, chăm sóc con sau khi ly hôn hay không? Nếu bị ngăn cản, tôi cần làm gì để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình? Đáp: Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên chỉ bị hạn chế trong những trường hợp đặc biệt và phải do Tòa án quyết định. Cụ thể, tại Điều 85 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cha, mẹ có thể bị Tòa án hạn chế quyền đối với con chưa thành niên nếu thuộc một trong các trường hợp sau: Bị kết án về các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con do lỗi cố ý hoặc có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; Phá tán tài sản của con; Có lối sống đồi trụy; Xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội. Tùy từng trường hợp cụ thể, Tòa án có thể quyết định hạn chế một hoặc một số quyền của cha, mẹ như: trông nom, chăm sóc, giáo dục con; quản lý tài sản riêng của con; đại diện theo pháp luật cho con, trong thời hạn từ 01 năm đến 05 năm, và có thể xem xét rút ngắn thời hạn này. Bên cạnh đó, tại khoản 3 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định rõ: sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, đồng thời có nghĩa vụ cấp dưỡng và tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi. Đồng thời, tại khoản 2 Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cũng khẳng định: cha, mẹ trực tiếp nuôi con và các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Như vậy, trừ trường hợp có quyết định của Tòa án hạn chế quyền thăm nom, việc chồng cũ ngăn cản bạn thăm nom, chăm sóc con là trái quy định pháp luật. Ngoài ra, theo Điều 42 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP của Chính phủ, người có hành vi ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa cha, mẹ và con có thể bị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng. Như vậy, căn cứ các quy định pháp luật nêu trên để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, bạn có thể thực hiện một số biện pháp sau: Lập vi bằng ghi nhận hành vi ngăn cản việc thăm nom, chăm sóc con làm chứng cứ; Gửi đơn phản ánh, kiến nghị kèm theo tài liệu, chứng cứ liên quan đến UBND cấp xã nơi người trực tiếp nuôi con cư trú để được xem xét, xử lý theo quy định; Trường hợp cần thiết, các chứng cứ nêu trên cũng là căn cứ để bạn khởi kiện yêu cầu Tòa án xem xét thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định của pháp luật. Ngọc Thủy – Phòng PBGDPL
10:48 10/02/2026
2598
Đăng ký khai sinh cho người không có giấy tờ tùy thân thực hiện như thế nào?
Hỏi: Người đã trưởng thành nhưng chưa từng được đăng ký khai sinh, không có giấy tờ tùy thân và không có nơi cư trú ổn định thì có được đăng ký khai sinh hay không? Đáp: Theo quy định của pháp luật về hộ tịch, mọi cá nhân đều có quyền được đăng ký khai sinh, kể cả trường hợp đã trưởng thành nhưng trước đây chưa được đăng ký và hiện không có giấy tờ tùy thân. Việc đăng ký khai sinh nhằm bảo đảm quyền nhân thân và là cơ sở để công dân thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Khoản 2 Điều 2 Luật Hộ tịch số 60/2014/QH13 quy định: “Đăng ký hộ tịch là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận hoặc ghi vào Sổ hộ tịch các sự kiện hộ tịch của cá nhân, tạo cơ sở pháp lý để Nhà nước bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, thực hiện quản lý về dân cư”. Khoản 1 Điều 8 Luật Hộ tịch số 60/2014/QH13 quy định: “Nhà nước có chính sách, biện pháp đồng bộ, tạo điều kiện để cá nhân thực hiện quyền, nghĩa vụ đăng ký hộ tịch”. Khoản 2 Điều 5 Luật Hộ tịch số 60/2014/QH13 quy định: “Mọi sự kiện hộ tịch cá nhân phải được đăng ký đầy đủ, kịp thời, trung thực, khách quan và chính xác…”. Hỏi: Trong trường hợp không có giấy tờ tùy thân, việc đăng ký khai sinh được thực hiện như thế nào? Nếu không xác định được cha, mẹ thì thông tin khai sinh được ghi nhận ra sao? Đáp: Để đảm bảo quyền lợi của người dân, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đang sinh sống sẽ phối hợp với cơ quan công an và các cơ quan liên quan để xác minh thông tin về nhân thân, nơi sinh, quá trình cư trú và mối quan hệ gia đình. Kết quả xác minh là căn cứ quan trọng để thực hiện việc đăng ký khai sinh theo quy định. Trường hợp không có căn cứ xác định cha, mẹ, cơ quan đăng ký hộ tịch sẽ áp dụng các quy định hiện hành của Bộ Tư pháp để xác định nội dung khai sinh phù hợp, bảo đảm đúng pháp luật và quyền lợi của người được đăng ký. Tại khoản 4 Điều 9 Thông tư số 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2020 của Bộ Tư pháp quy định: “Trường hợp giấy tờ của người yêu cầu đăng ký lại khai sinh không có thông tin chứng minh quan hệ cha, mẹ, con thì cơ quan đăng ký hộ tịch có văn bản đề nghị cơ quan công an có thẩm quyền xác minh. Trường hợp cơ quan công an trả lời không có thông tin thì cơ quan đăng ký hộ tịch cho người yêu cầu đăng ký lại khai sinh lập văn bản cam đoan về thông tin của cha, mẹ theo quy định tại Điều 4, Điều 5 Thông tư này và xác định nội dung khai sinh theo văn bản cam đoan”. Hỏi: Giấy khai sinh được cấp trong trường hợp này có giá trị pháp lý như thế nào? Đáp: Giấy khai sinh là giấy tờ hộ tịch gốc, có giá trị pháp lý làm cơ sở để người được đăng ký thực hiện các thủ tục tiếp theo như đăng ký cư trú, cấp căn cước công dân và các quyền, lợi ích hợp pháp khác. Khoản 1, khoản 2 Điều 6 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP quy định: “(1) Giấy khai sinh là giấy tờ hộ tịch gốc của cá nhân”, (2) Mọi hồ sơ, giấy tờ của cá nhân có nội dung về họ, chữ đệm, tên; ngày, tháng, năm sinh; giới tính, dân tộc; quốc tịch; quê quán; quan hệ cha, mẹ, con phải phù hợp với Giấy khai sinh của người đó”. Khuyến nghị: Người dân trong trường hợp chưa có giấy khai sinh cần chủ động liên hệ Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đang sinh sống để được hướng dẫn, hỗ trợ kịp thời, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định của pháp luật. Pháp luật hộ tịch luôn bảo đảm quyền được đăng ký khai sinh của mọi công dân, kể cả người đã trưởng thành, không có giấy tờ tùy thân hay nơi cư trú ổn định. Không ai bị bỏ lại ngoài “vùng bảo hộ” của pháp luật. Nhà nước và chính quyền cơ sở có trách nhiệm chủ động hỗ trợ người dân, thông qua việc phối hợp xác minh, hướng dẫn và giải quyết thủ tục hộ tịch, nhằm bảo vệ quyền nhân thân hợp pháp. Giấy khai sinh là nền tảng pháp lý quan trọng nhất của mỗi cá nhân, là cơ sở để người dân tiếp cận các quyền lợi cơ bản như cư trú, căn cước công dân, an sinh xã hội. Kim Oanh, Phòng HCTP
08:49 06/02/2026
6424
Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 – 2031
Trong thời gian tới sẽ diễn ra nhiều sự kiện trọng đại của đất nước, đặc biệt là Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 – 2031. Trong đó, bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp là quyền, nghĩa vụ của mỗi cử tri. Vậy, ai là cử tri? Khi nào đến ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 – 2031? Bỏ phiếu ở khu vực nào, bắt đầu và kết thúc vào thời điểm nào trong ngày? Sau đây là một số nội dung giải đáp: (Hình minh hoạ - thiết kế: tam nhi) * Cử tri: Cử tri là người có quyền bầu cử. Công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam, tính đến ngày bầu cử (ngày 15 tháng 3 năm 2026), đủ 18 tuổi trở lên và có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật về bầu cử đều có quyền bầu cử. * Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 – 2031: Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân quy định ngày bầu cử phải là ngày Chủ nhật và được công bố chậm nhất là 115 ngày trước ngày bầu cử. Trường hợp đặc biệt cần hoãn ngày bỏ phiếu hoặc bỏ phiếu sớm hơn ngày quy định thì Ủy ban bầu cử trình Hội đồng bầu cử quốc gia xem xét, quyết định. Từ những căn cứ trên, Quốc hội khóa XV đã ban hành Nghị quyết số 199/2025/QH15 ngày 21 tháng 5 năm 2025 quyết định Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 là Chủ nhật, ngày 15 tháng 3 năm 2026. * Thời điểm bắt đầu và kết thúc việc bỏ phiếu: Trong ngày bầu cử đã được cơ quan có thẩm quyền quyết định, công bố, việc bỏ phiếu được bắt đầu từ 07 giờ sáng và thực hiện liên tục cho đến 07 giờ tối cùng ngày. Tùy tình hình địa phương, Tổ bầu cử có thể quyết định cho bắt đầu việc bỏ phiếu sớm hơn nhưng không được trước 05 giờ sáng hoặc kết thúc muộn hơn nhưng không được quá 09 giờ tối cùng ngày. Trường hợp gần đến giờ kết thúc việc bỏ phiếu theo quy định mà vẫn còn cử tri chưa thực hiện xong việc bỏ phiếu thì Tổ bầu cử có trách nhiệm thông báo đến các cử tri còn ở trong khu vực phòng bỏ phiếu về việc chuẩn bị kết thúc thời gian bỏ phiếu và đề nghị cử tri khẩn trương hoàn thành việc bỏ phiếu. Tổ bầu cử thực hiện việc đóng hòm phiếu vào đúng thời gian đã quy định, không phụ thuộc vào việc cử tri đã bỏ phiếu hết hay chưa. * Danh sách và khu vực bỏ phiếu của cử tri: Danh sánh cử tri do Ủy ban nhân dân cấp xã lập theo từng khu vực bỏ phiếu. Ngoài ra, danh sách cử tri trong đơn vị vũ trang nhân dân do chỉ huy đơn vị lập theo đơn vị vũ trang nhân dân để đưa vào danh sách cử tri của khu vực bỏ phiếu nơi đơn vị đóng quân. Các cử tri đang đăng ký thường trú tại địa bàn được ghi tên vào danh sách cử tri tại nơi mình thường trú; trường hợp cử tri có nguyện vọng bỏ phiếu ở nơi khác thì cần thông báo lại để Ủy ban nhân dân cấp xã không ghi tên vào danh sách cử tri ở địa phương. Chậm nhất là ngày 03 tháng 02 năm 2026 (40 ngày trước ngày bầu cử), Ủy ban nhân dân cấp xã đã lập danh sách cử tri phải niêm yết danh sách đó tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã và tại những địa điểm công cộng của khu vực bỏ phiếu, đồng thời thông báo rộng rãi danh sách cử tri và việc niêm yết để Nhân dân kiểm tra. Việc lập, niêm yết danh sách cử tri và việc thay đổi, bổ sung, cập nhật danh sách cử tri được thực hiện theo quy định của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, Thông tư số 21/2025/TT-BNV ngày 12 tháng 10 năm 2025 của Bộ Nội vụ và Quyết định số 8202/ Đ-BCA-C06 ngày 07 tháng 10 năm 2025 của Bộ Công an. Tg: Tâm Nhi
13:59 16/01/2026
1053
Không đăng ký khai sinh cho con – cha mẹ có thể bị xử lý hình sự không?
Tại một vùng quê, một bé gái 10 tuổi được phát hiện chưa từng có giấy khai sinh. Bé không được đi học, không có bảo hiểm y tế, không được tiêm chủng, cũng không có bất kỳ loại giấy tờ tùy thân nào. Cả cha và mẹ của bé đều đã bỏ đi, không ai chăm sóc. Khi chính quyền địa phương vào cuộc, người ta mới giật mình nhận ra: đứa trẻ ấy đang “không tồn tại” về mặt pháp lý. Câu hỏi: Cha mẹ bỏ con, không khai sinh – Có thể cấu thành tội phạm gì? Trả lời: Theo Luật Hộ tịch năm 2014, cụ thể tại Điều 15, cha hoặc mẹ có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho con trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày sinh. Việc khai sinh là nghĩa vụ pháp lý đầu tiên của cha mẹ đối với con, bảo đảm cho đứa trẻ được công nhận là công dân, được thụ hưởng các quyền cơ bản như học tập, chăm sóc y tế, bảo trợ xã hội… Theo Điều 186 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), người nào có nghĩa vụ nuôi dưỡng mà từ chối hoặc trốn tránh, làm cho người được nuôi dưỡng rơi vào tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe, hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác, có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự: ► Điều 186. Tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng Người nào có nghĩa vụ cấp dưỡng mà từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng làm cho người được cấp dưỡng lâm vào tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe, cuộc sống thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm. Dù không dùng đúng thuật ngữ “khai sinh”, nhưng việc không khai sinh cho con đi kèm với hành vi bỏ rơi, không chăm sóc, không nuôi dưỡng, để trẻ sống lang thang, không học hành, không được chữa bệnh, có thể được xem là biểu hiện của hành vi “trốn tránh nghĩa vụ nuôi dưỡng”. Tùy mức độ hậu quả, cha mẹ có thể bị xử lý hình sự nếu chứng minh được: Có nghĩa vụ pháp lý phải nuôi dưỡng (tư cách cha mẹ hợp pháp), Có hành vi từ chối, bỏ mặc, trốn tránh, Hành vi đó gây hậu quả nghiêm trọng (trẻ bị xâm hại, bệnh tật không được điều trị, bị tước đoạt quyền học hành…). Trẻ không được khai sinh – hệ lụy nặng nề cả đời Một đứa trẻ không được đăng ký khai sinh không chỉ bị tước đoạt quyền công dân, mà còn bị thiệt thòi về mọi mặt: Không được đi học đúng tuyến, không có hồ sơ học sinh đầy đủ, Không có bảo hiểm y tế, không được khám chữa bệnh miễn phí như các trẻ khác, Không được bảo vệ hợp pháp khi bị xâm hại, không có giấy tờ để tố cáo hành vi vi phạm, Không được nhập hộ khẩu, không có CCCD, dẫn đến không thể tiếp cận dịch vụ xã hội, ngân hàng, việc làm sau này. Về bản chất, đứa trẻ bị “vô hình hóa” trong hệ thống pháp luật và xã hội – một vi phạm nghiêm trọng quyền con người, đi ngược với tinh thần bảo vệ trẻ em trong Luật Trẻ em 2016, Hiến pháp 2013 và các công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Khuyến nghị Việc không khai sinh cho con là hành vi vi phạm pháp luật. Nếu chỉ là vi phạm thủ tục, không có hậu quả, thì bị xử phạt hành chính. Nhưng nếu hành vi không khai sinh đi cùng với việc từ chối nghĩa vụ nuôi dưỡng, làm trẻ em lâm vào tình trạng bị tổn hại nghiêm trọng, thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 185 Bộ luật Hình sự. Cha mẹ, hoặc người giám hộ, cần nhận thức rõ trách nhiệm pháp lý và đạo đức của mình. Nếu trẻ chưa được khai sinh, cần làm thủ tục bổ sung khai sinh ngay, kể cả đã quá hạn. Trong trường hợp cha mẹ bỏ đi hoặc không rõ tung tích, người thân hoặc chính quyền địa phương có thể hỗ trợ đăng ký khai sinh theo trình tự quy định tại Điều 14, 15, 16 Luật Hộ tịch. Châu Vân - Phòng HCTP
11:00 12/01/2026
1872
Công dân có quyền được biết, quyền đồng ý, quyền truy cập, chỉnh sửa và yêu cầu xóa dữ liệu cá nhân từ 01/01/2026
Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, dữ liệu cá nhân ngày càng được thu thập, xử lý và sử dụng rộng rãi trong hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội.
16:46 06/01/2026
1011
Trang
123
Liên kết
Thống kê truy cập
  • Đang online: 40
  • Hôm nay: 304
  • Trong tuần: 15262
  • Trong tháng: 75931
  • Tổng truy cập: 445296