Chặt hạ cây xanh, khi nào cần xin phép?

17:05 28/09/2026

Cây xanh có mặt ở khắp nơi và gắn với đời sống hàng ngày của chúng ta, tuy nhiên, không phải ai cũng biết được các quy định về quản lý cây xanh, đây là lý do dẫn đến khả năng tiềm ẩn rủi ro trong việc quản lý, sử dụng cây xanh. Thực tế thời gian qua đã có nhiều vụ việc bị xử phạt vi phạm hành chính liên quan đến chặt hạ cây xanh.

XÁC ĐỊNH QUỐC TỊCH KHI ĐĂNG KÝ KHAI SINH - XÁC LẬP ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA CÁ NHÂN TRONG QUAN HỆ VỚI NHÀ NƯỚC
Xác định quốc tịch khi đăng ký khai sinh là một trong những nội dung cốt lõi của đăng ký hộ tịch, bởi đây không chỉ là việc ghi nhận một thông tin nhân thân mà còn là cơ sở xác lập địa vị pháp lý của cá nhân trong quan hệ với Nhà nước. Nếu xác định không đúng quốc tịch của trẻ, có thể làm phát sinh nhiều hệ quả pháp lý như hạn chế quyền nhân thân, quyền cư trú, quyền học tập, chăm sóc y tế, quyền được bảo hộ …; đồng thời có thể dẫn đến xung đột quốc tịch hoặc nghiêm trọng hơn là làm trẻ rơi vào tình trạng không quốc tịch. Luật Hộ tịch quy định việc xác định quốc tịch của người được khai sinh phải tuân theo pháp luật về quốc tịch. Với mục tiêu xuyên suốt là hạn chế tối đa tình trạng không quốc tịch, Luật Quốc tịch Việt Nam đã có quy định về việc xác định quốc tịch đối với từng trường hợp cụ thể như sau: Thứ nhất, đối với nhóm trẻ em sinh ra có cả cha và mẹ là công dân Việt Nam: Điều 15 của Luật Quốc tịch Việt nam năm 2008 quy định: trẻ em sinh ra trong hoặc ngoài lãnh thổ Việt Nam mà khi sinh ra có cha, mẹ đều là công dân Việt Nam thì có quốc tịch Việt Nam. Trên thực tế, vẫn có cách hiểu chưa thống nhất đối với trường hợp trẻ em có cả cha và mẹ là công dân Việt Nam nhưng sinh ra ở nước ngoài. Đối với trường hợp này cần hiểu rằng, trẻ em có quốc tịch Việt Nam ngay từ thời điểm sinh ra, không phụ thuộc vào việc được khai sinh và xác định có quốc tịch nước ngoài hay chưa. Nghĩa là, trong mọi trường hợp trẻ em sinh ra trong hay ngoài lãnh thổ Việt Nam mà có cha mẹ là công dân Việt Nam, thì trẻ em có quốc tịch Việt Nam mà không phụ thuộc vào việc trẻ em đã được đăng ký khai sinh và xác định có quốc tịch nước ngoài hay chưa. Hình ảnh giải quyết các việc hộ tịch cho người dân tại UBND xã Quảng Trực - xã biên giới của tỉnh Lâm Đồng Thứ hai, đối với nhóm trẻ em có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam còn người kia là công dân nước ngoài: Khoản 2 Điều 16 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 được sửa đổi tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quốc tịch Việt Nam, quy định: Trẻ em sinh ra có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam còn người kia là công dân nước ngoài thì có quốc tịch Việt Nam, nếu cha mẹ thỏa thuận lựa chọn quốc tịch Việt Nam cho con khi thực hiện thủ tục về khai sinh tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam. Trường hợp trẻ em được sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam mà cha mẹ không thỏa thuận được việc lựa chọn quốc tịch cho con thì trẻ em đó có quốc tịch Việt Nam. Khoản 1 Điều 9 Nghị định số 191/2025/NĐ-CP quy định Xác định quốc tịch của trẻ em khi thực hiện thủ tục về khai sinh đối với trường hợp trẻ em sinh ra có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam còn người kia là công dân nước ngoài, cụ thể: + Trẻ em có quốc tịch Việt Nam nếu cha mẹ thỏa thuận lựa chọn quốc tịch Việt Nam cho con khi thực hiện đăng ký khai sinh. Thỏa thuận lựa chọn quốc tịch cho con khi đăng ký khai sinh có yếu tố nước ngoài + Trường hợp trẻ em được sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam mà cha mẹ không thỏa thuận được việc lựa chọn quốc tịch cho con khi thực hiện đăng ký khai sinh thì trẻ em đó có quốc tịch Việt Nam. Cha hoặc mẹ lập văn bản cam đoan về việc không thỏa thuận được việc lựa chọn quốc tịch cho con và chịu trách nhiệm về việc cam đoan này. + Trường hợp trẻ em đã được đăng ký khai sinh tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài, có quốc tịch nước ngoài thì trẻ em đó có quốc tịch Việt Nam nếu cha mẹ thỏa thuận lựa chọn quốc tịch Việt Nam cho con khi thực hiện ghi vào Sổ hộ tịch việc khai sinh và việc giữ quốc tịch nước ngoài phải phù hợp với pháp luật của nước mà trẻ đang mang quốc tịch. Cha mẹ trẻ phải có bản cam đoan về việc giữ quốc tịch nước ngoài phù hợp với pháp luật của nước mà trẻ đang mang quốc tịch và chịu trách nhiệm về việc cam đoan này. + Trường hợp cha, mẹ lựa chọn quốc tịch nước ngoài cho con khi đăng ký khai sinh, thì ngoài văn bản thỏa thuận lựa chọn quốc tịch còn phải có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền của nước mà trẻ được chọn mang quốc tịch về việc trẻ có quốc tịch phù hợp quy định pháp luật của nước đó. Nếu cơ quan có thẩm quyền nước ngoài không xác nhận thì cơ quan đăng ký hộ tịch thực hiện đăng ký khai sinh cho trẻ, nhưng để trống phần ghi về quốc tịch trong Giấy khai sinh và Sổ đăng ký khai sinh. Thứ ba, đối với trẻ em khi sinh ra có cha hoặc mẹ là người không quốc tịch: Điều 17 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 quy định: Trẻ em sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam mà khi sinh ra có cha mẹ đều là người không quốc tịch, nhưng có nơi thường trú tại Việt Nam thì có quốc tịch Việt Nam. Trẻ em sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam mà khi sinh ra có mẹ là người không quốc tịch, nhưng có nơi thường trú tại Việt Nam, còn cha không rõ là ai thì có quốc tịch Việt Nam. Thứ tư, xác định quốc tịch của trẻ sơ sinh bị bỏ rơi, trẻ em được tìm thấy trên lãnh thổ Việt Nam: Để bảo vệ quyền, lợi ích của trẻ, Điều 18 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 quy định: Trẻ sơ sinh bị bỏ rơi, trẻ em được tìm thấy trên lãnh thổ Việt Nam mà không rõ cha mẹ là ai thì có quốc tịch Việt Nam, trường hợp trẻ tìm thấy cha mẹ mà cha mẹ chỉ có quốc tịch nước ngoài hoặc chỉ tìm thấy cha hoặc mẹ mà người đó chỉ có quốc tịch nước ngoài thì trẻ chưa đủ 15 tuổi không còn quốc tịch Việt Nam. Như vậy, việc xác định đúng quốc tịch ngay khi đăng ký khai sinh là biện pháp phòng ngừa hiệu quả nhất nhằm giảm thiểu tình trạng không quốc tịch và bảo đảm quyền trẻ em. Có thể thấy rằng pháp luật Việt Nam đã thiết lập tương đối đầy đủ cơ chế xác định quốc tịch khi đăng ký khai sinh theo hướng kết hợp giữa Luật Hộ tịch và Luật Quốc tịch Việt Nam. Các quy định hiện hành thể hiện rõ chính sách ưu tiên bảo đảm mọi trẻ em đều có quốc tịch ngay từ khi sinh, đặc biệt thông qua việc công nhận quốc tịch Việt Nam trong các trường hợp trẻ có nguy cơ không quốc tịch như trẻ bị bỏ rơi, trẻ chưa xác định được cha mẹ hoặc trẻ sinh tại Việt Nam có cha mẹ không quốc tịch thường trú tại Việt Nam. Tuy nhiên, trong bối cảnh gia tăng các quan hệ hôn nhân và di cư có yếu tố nước ngoài, vẫn còn những khó khăn trong việc xác minh quốc tịch nước ngoài, phối hợp giữa các cơ quan và áp dụng pháp luật nước ngoài. Vì vậy, việc tiếp tục hoàn thiện cơ chế xác định quốc tịch theo hướng vừa bảo đảm đúng quy định của pháp luật hộ tịch, vừa đặt quyền có quốc tịch của trẻ em làm trung tâm sẽ góp phần thực hiện tốt cam kết của Việt Nam trong bảo vệ quyền con người và phòng ngừa tình trạng không quốc tịch. Chu Nga – Phòng Hành chính tư pháp
09:15 04/08/2026
725
Trẻ sinh ra ở nước ngoài, nhập cảnh bằng đường tiểu ngạch vào Việt Nam có được làm giấy khai sinh không?
Chị Nguyễn Thị H (người Việt Nam cư trú tại tỉnh Lâm Đồng) sang nước ngoài kết hôn bằng đường tiểu ngạch, không có giấy tờ hợp pháp. Năm 2013, chị H sinh một bé gái tại nước ngoài nhưng không được gia đình chồng thừa nhận. Do đó, chị H đã đưa con về Việt Nam sinh sống bằng đường tiểu ngạch (không qua cửa khẩu). Khi về nước, cháu bé hoàn toàn không có giấy tờ tùy thân và chưa từng được đăng ký khai sinh tại bất kỳ cơ quan có thẩm quyền nào ở nước ngoài. Nay chị H muốn làm thủ tục đăng ký khai sinh cho con tại Việt Nam. CÂU HỎI ĐẶT RA Câu 1. Chị Nguyễn Thị H có thể đăng ký khai sinh cho con tại Việt Nam được không? Thủ tục xác minh được tiến hành như thế nào? Chị Nguyễn Thị H hoàn toàn được phép đăng ký khai sinh cho con tại Việt Nam. Theo quy định tại Điều 29 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP và Điều 7 Thông tư số 04/2020/TT-BTP, trẻ em sinh ra ở nước ngoài, có mẹ là công dân Việt Nam, về nước cư trú và chưa được đăng ký khai sinh thì thuộc diện được giải quyết đăng ký khai sinh trong nước. Do trường hợp này nhập cảnh tiểu ngạch và không có giấy tờ, thủ tục sẽ được thực hiện như sau: Thủ tục xác minh: UBND cấp xã sẽ phối hợp với cơ quan Công an cùng cấp tiến hành kiểm tra, xác minh rõ: nhân thân của trẻ, thời gian về nước, người đi cùng, quá trình cư trú liên tục tại địa phương từ khi về nước đến nay. Cam đoan của người mẹ: Sau khi xác minh nội dung chị H cung cấp là đúng (trẻ chưa từng có giấy tờ, chưa được đăng ký khai sinh hay xác định quốc tịch ở nước ngoài), UBND cấp xã sẽ hướng dẫn chị H lập văn bản cam đoan để hoàn thiện hồ sơ. Cơ quan giải quyết: UBND cấp xã nơi chị H và cháu bé đang cư trú sinh sống. Câu 2: Thành phần hồ sơ đăng ký khai sinh bao gồm những gì? Do cháu bé không có giấy tờ từ nước ngoài mang về, chị H cần chuẩn bị và phối hợp hoàn thiện bộ hồ sơ gồm: Tờ khai đăng ký khai sinh (theo mẫu quy định). Văn bản cam đoan của chị H về các nội dung: Trẻ sinh ra tại nước ngoài; chưa từng được đăng ký khai sinh hay cấp giấy tờ tùy thân ở bất kỳ đâu; lý do nhập cảnh bằng đường tiểu ngạch và cam đoan về quốc tịch của trẻ. Giấy tờ của người mẹ: Căn cước công dân hoặc Hộ chiếu còn giá trị; giấy tờ chứng minh nơi cư trú tại địa phương. Biên bản kiểm tra, xác minh về nhân thân, quá trình nhập cảnh và cư trú của trẻ (do cơ quan Công an có thẩm quyền phối hợp lập và xác nhận). Lời khuyên: Chị H cần chủ động phối hợp và cung cấp thông tin hoàn toàn trung thực, chính xác cho cơ quan Công an khi tiến hành xác minh (về thời gian, cửa ngõ nhập cảnh, quá trình sinh sống tại địa phương...). Ngay sau khi có kết quả xác minh từ phía Công an, UBND cấp xã sẽ tiến hành giải quyết đăng ký và cấp Giấy khai sinh cho cháu bé. Bích Trâm, Phòng HCTP
11:28 23/06/2026
472
Quy định về xác nhận quốc tịch Việt Nam
Hỏi: Ông Trần Thanh Hùng sinh ra tại Việt Nam, có giấy khai sinh và hộ khẩu thường trú tại Việt Nam. Năm 1990, ông A vượt biên sang Hoa Kỳ sinh sống. Đến nay, ông Trần Thanh Hùng đã định cư lâu dài tại Mỹ và có quốc tịch Hoa Kỳ. Hiện nay, khi về Việt Nam thăm thân nhân và gia đình, ông Trần Thanh Hùng muốn biết mình có còn quốc tịch Việt Nam hay không? Trường hợp ông Trần Thanh Hùng muốn có giấy tờ pháp lý để chứng minh còn quốc tịch Việt Nam thì ông Hùng cần phải làm thủ tục gì? Trả lời: Đối với trường hợp của ông Trần Thanh Hùng, năm 1990 ông vượt biên sang Hoa Kỳ sinh sống và không biết thông tin mình có còn quốc tịch Việt Nam hay không? Thứ nhất, trường hợp vượt biên ra nước ngoài hoặc định cư, nhập quốc tịch Mỹ không đương nhiên làm mất quốc tịch Việt Nam. Nếu ông A chưa làm thủ tục xin thôi quốc tịch Việt Nam và chưa có quyết định của Chủ tịch nước cho thôi/tước quốc tịch Việt Nam, thì về mặt pháp lý, ông A vẫn còn quốc tịch Việt Nam. Bởi vì, theo khoản 2 Điều 13 Luật Quốc tịch Việt Nam sửa đổi năm 2025 quy định người có quốc tịch Việt Nam như sau: “2. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà chưa mất quốc tịch Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì vẫn còn quốc tịch Việt Nam. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài chưa mất quốc tịch Việt Nam mà không có giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam theo quy định tại Điều 11 của Luật này thì đề nghị với cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài để được xác nhận có quốc tịch Việt Nam.” Ngoài ra, Điều 26 Luật Quốc tịch Việt Nam sửa đổi năm 2025 quy định về căn cứ mất quốc tịch Việt Nam như sau: “1. Được thôi quốc tịch Việt Nam. 2. Bị tước quốc tịch Việt Nam. 2a. Bị hủy bỏ Quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam, Quyết định cho trở lại quốc tịch Việt Nam. 4. Theo quy định tại khoản 2 Điều 18 và Điều 35 của Luật này. 5. Theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.” Do đó, trường hợp của Ông Trần Thanh Hùng chỉ mất quốc tịch Việt Nam khi: + Có quyết định cho thôi quốc tịch Việt Nam của Chủ tịch nước; hoặc + Bị tước quốc tịch Việt Nam theo quy định của pháp luật. Thứ hai, nếu muốn có giấy tờ pháp lý để chứng minh còn quốc tịch Việt Nam thì ông Trần Thanh Hùng cần phải làm thủ tục đề nghị cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy xác nhận có quốc tịch Việt Nam theo quy định. Bởi vì, theo khoản 2 đã nêu trên và khoản 3 Điều 13 Luật Quốc tịch Việt Nam sửa đổi năm 2025 quy định: “3. Chính phủ quy định trình tự, thủ tục xác nhận có quốc tịch Việt Nam.” và Điều 30 Nghị định số 191/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 đã quy định về Trình tự, thủ tục cấp Giấy xác nhận có quốc tịch Việt Nam. Một số lưu ý: - Trên thực tế, nhiều người Việt Nam ra nước ngoài từ lâu thường nhầm tưởng rằng mình đã mất quốc tịch Việt Nam, trong khi chưa từng làm thủ tục pháp lý về quốc tịch hoặc chưa có quyết định của cơ quan có thẩm quyền cho thoy quốc tịch Việt Nam. - Khi thực hiện các thủ tục như: xác nhận quốc tịch Việt Nam, hồi hương, thừa kế, hộ tịch…, cơ quan có thẩm quyền sẽ căn cứ hồ sơ pháp lý, không căn cứ vào việc sinh sống ở đâu. Thông điệp Sinh sống ở nước ngoài không đồng nghĩa với mất quốc tịch Việt Nam – quốc tịch chỉ thay đổi khi có quyết định của cơ quan có thẩm quyền. + Quốc tịch là quan hệ pháp lý đặc biệt giữa cá nhân và Nhà nước, không tự chấm dứt chỉ vì thay đổi nơi cư trú hay quốc tịch nước ngoài. + Người dân nên chủ động tìm hiểu và thực hiện đúng thủ tục pháp luật để bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp lâu dài của mình. Thúy Hà – Phòng HCTP
14:03 07/01/2026
3715
Không đăng ký kết hôn có đăng ký khai sinh được không?
Chị A chung sống với anh T nhưng không đăng ký kết hôn. Do mâu thuẫn nên T bỏ di và không biết rằng A có thai với T. Sau khi sinh được một bé gái, chị A làm thủ tục khai sinh cho con, chị cho đứa bé mang họ mẹ và trong giấy khai sinh của cháu không có tên người cha. Gần đây, T biết chị A sinh con, qua tìm hiểu biết đó là con mình nên T đã quay lại xin nhận con, hàn gắn mối quan hệ trước đây. Chị A đồng ý cho anh T nhận con gái. Tuy nhiên, chị A băn khoăn không biết chị có thể bổ sung tên T là cha vào giấy khai sinh của đưa bé không? Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết việc này? Trả lời: Theo quy định tại Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng được xác định là cha, mẹ của con. Do đó, nếu anh T muốn nhận con thì anh chị có thể đề nghị cơ quan có thẩm quyền ghi bổ sung tên người cha vào giấy khai sinh của cháu. Tuy nhiên, trước khi ghi bổ sung tên cha vào giấy khai sinh của con, anh T cần phải làm thủ tục đăng ký việc nhận cha cho con. Tại Điều 19 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch quy định về đăng ký nhận cha, mẹ, con như sau: – Ủy ban nhân dân xã ở khu vực biên giới thực hiện đăng ký việc nhận cha, mẹ, con của công dân Việt Nam thường trú tại địa bàn xã đó với công dân của nước láng giềng thường trú tại đơn vị hành chính tương đương cấp xã của Việt Nam, tiếp giáp với xã ở khu vực biên giới của Việt Nam nơi công dân Việt Nam thường trú. – Người yêu cầu đăng ký nhận cha, mẹ, con xuất trình bản chính một trong các giấy tờ là hộ chiếu, chứng minh nhân dân, thẻ căn cước công dân hoặc giấy tờ khác có dán ảnh và thông tin cá nhân do cơ quan có thẩm quyền cấp, còn giá trị sử dụng (sau đây gọi là giấy tờ tùy thân) để chứng minh về nhân thân và trực tiếp nộp hồ sơ tại Ủy ban nhân dân xã; hồ sơ đăng ký nhận cha, mẹ, con gồm các giấy tờ sau đây: + Tờ khai nhận cha, mẹ, con theo mẫu quy định; + Giấy tờ, tài liệu chứng minh quan hệ cha – con hoặc quan hệ mẹ – con; + Bản sao giấy tờ chứng minh nhân thân, chứng minh nơi thường trú ở khu vực biên giới của công dân nước láng giềng. – Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, công chức tư pháp – hộ tịch kiểm tra hồ sơ, niêm yết việc nhận cha, mẹ, con tại trụ sở Ủy ban nhân dân và báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã quyết định. Trường hợp phải xác minh thì thời hạn giải quyết không quá 12 ngày làm việc. – Nếu thấy việc nhận cha, mẹ, con là đúng và không có tranh chấp, công chức tư pháp - hộ tịch ghi nội dung vào Sổ hộ tịch, cùng người có yêu cầu ký, ghi rõ họ tên vào Sổ hộ tịch; Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã ký cấp cho mỗi bên 01 bản chính trích lục hộ tịch. Khi đăng ký việc nhận cha, mẹ, con, các bên cha, mẹ, con phải có mặt. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã ký và cấp cho mỗi bên một bản chính Quyết định công nhận việc nhận cha, mẹ, con. Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi đã đăng ký khai sinh cho người con sẽ căn cứ Quyết định này để ghi bổ sung phần khai về cha, mẹ trong Sổ đăng ký khai sinh và bản chính Giấy khai sinh của người con. Như vậy, để bổ sung tên anh T trong giấy khai sinh cho con, thì trước tiên anh T, chị A phải làm thủ tục đăng ký việc nhận cha cho con. Sau khi có quyết định công nhận việc nhận cha, con, UBND cấp xã, nơi chị A đã đăng ký khai sinh cho con sẽ ghi bổ sung phần khai về cha trong sổ đăng ký khai sinh và bản chính Giấy khai sinh của con. Kim Cúc – Phòng HCTP
09:21 22/12/2025
3461
Tìm hiểu Luật Đầu tư năm 2020
14:23 18/11/2025
217
Nâng cao ý thức đảm bảo an toàn giao thông lứa tuổi học sinh
14:13 18/11/2025
181
Một số vấn đề pháp lý cần lưu ý khi khởi nghiệp
14:11 18/11/2025
187
Mở rộng thị trường cho doanh nghiệp nhỏ và vừa
14:10 18/11/2025
209
Tư vấn chính sách pháp luật - Phi thương bất phú
Tư vấn chính sách pháp luật - Phi thương bất phú
10:31 08/08/2025
178
Tư vấn chính sách pháp luật - Chuyển đổi xanh
09:45 04/08/2025
185
Trang
12
Liên kết
Thống kê truy cập
  • Đang online: 114
  • Hôm nay: 3943
  • Trong tuần: 30285
  • Trong tháng: 116807
  • Tổng truy cập: 630821