Quyền được thăm nom, chăm sóc con sau ly hôn

10:48 10/02/2026

Hỏi: Tôi và chồng cũ đã ly hôn theo bản án của Tòa án, trong đó giao con cho chồng cũ trực tiếp nuôi dưỡng, tôi có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con đến khi trưởng thành. Sau ly hôn, tôi đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định. Tuy nhiên, mỗi lần tôi đến thăm con thì chồng cũ không cho gặp, thậm chí còn có lời lẽ xúc phạm tôi. Xin hỏi, theo quy định của pháp luật, chồng cũ có quyền ngăn cản tôi thăm nom, chăm sóc con sau khi ly hôn hay không? Nếu bị ngăn cản, tôi cần làm gì để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình? Đáp: Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên chỉ bị hạn chế trong những trường hợp đặc biệt và phải do Tòa án quyết định. Cụ thể, tại Điều 85 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cha, mẹ có thể bị Tòa án hạn chế quyền đối với con chưa thành niên nếu thuộc một trong các trường hợp sau: Bị kết án về các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con do lỗi cố ý hoặc có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; Phá tán tài sản của con; Có lối sống đồi trụy; Xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội. Tùy từng trường hợp cụ thể, Tòa án có thể quyết định hạn chế một hoặc một số quyền của cha, mẹ như: trông nom, chăm sóc, giáo dục con; quản lý tài sản riêng của con; đại diện theo pháp luật cho con, trong thời hạn từ 01 năm đến 05 năm, và có thể xem xét rút ngắn thời hạn này. Bên cạnh đó, tại khoản 3 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định rõ: sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, đồng thời có nghĩa vụ cấp dưỡng và tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi. Đồng thời, tại khoản 2 Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cũng khẳng định: cha, mẹ trực tiếp nuôi con và các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Như vậy, trừ trường hợp có quyết định của Tòa án hạn chế quyền thăm nom, việc chồng cũ ngăn cản bạn thăm nom, chăm sóc con là trái quy định pháp luật. Ngoài ra, theo Điều 42 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP của Chính phủ, người có hành vi ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa cha, mẹ và con có thể bị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng. Như vậy, căn cứ các quy định pháp luật nêu trên để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, bạn có thể thực hiện một số biện pháp sau: Lập vi bằng ghi nhận hành vi ngăn cản việc thăm nom, chăm sóc con làm chứng cứ; Gửi đơn phản ánh, kiến nghị kèm theo tài liệu, chứng cứ liên quan đến UBND cấp xã nơi người trực tiếp nuôi con cư trú để được xem xét, xử lý theo quy định; Trường hợp cần thiết, các chứng cứ nêu trên cũng là căn cứ để bạn khởi kiện yêu cầu Tòa án xem xét thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định của pháp luật. Ngọc Thủy – Phòng PBGDPL

Quy định về xác nhận quốc tịch Việt Nam
Hỏi: Ông Trần Thanh Hùng sinh ra tại Việt Nam, có giấy khai sinh và hộ khẩu thường trú tại Việt Nam. Năm 1990, ông A vượt biên sang Hoa Kỳ sinh sống. Đến nay, ông Trần Thanh Hùng đã định cư lâu dài tại Mỹ và có quốc tịch Hoa Kỳ. Hiện nay, khi về Việt Nam thăm thân nhân và gia đình, ông Trần Thanh Hùng muốn biết mình có còn quốc tịch Việt Nam hay không? Trường hợp ông Trần Thanh Hùng muốn có giấy tờ pháp lý để chứng minh còn quốc tịch Việt Nam thì ông Hùng cần phải làm thủ tục gì? Trả lời: Đối với trường hợp của ông Trần Thanh Hùng, năm 1990 ông vượt biên sang Hoa Kỳ sinh sống và không biết thông tin mình có còn quốc tịch Việt Nam hay không? Thứ nhất, trường hợp vượt biên ra nước ngoài hoặc định cư, nhập quốc tịch Mỹ không đương nhiên làm mất quốc tịch Việt Nam. Nếu ông A chưa làm thủ tục xin thôi quốc tịch Việt Nam và chưa có quyết định của Chủ tịch nước cho thôi/tước quốc tịch Việt Nam, thì về mặt pháp lý, ông A vẫn còn quốc tịch Việt Nam. Bởi vì, theo khoản 2 Điều 13 Luật Quốc tịch Việt Nam sửa đổi năm 2025 quy định người có quốc tịch Việt Nam như sau: “2. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà chưa mất quốc tịch Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì vẫn còn quốc tịch Việt Nam. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài chưa mất quốc tịch Việt Nam mà không có giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam theo quy định tại Điều 11 của Luật này thì đề nghị với cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài để được xác nhận có quốc tịch Việt Nam.” Ngoài ra, Điều 26 Luật Quốc tịch Việt Nam sửa đổi năm 2025 quy định về căn cứ mất quốc tịch Việt Nam như sau: “1. Được thôi quốc tịch Việt Nam. 2. Bị tước quốc tịch Việt Nam. 2a. Bị hủy bỏ Quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam, Quyết định cho trở lại quốc tịch Việt Nam. 4. Theo quy định tại khoản 2 Điều 18 và Điều 35 của Luật này. 5. Theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.” Do đó, trường hợp của Ông Trần Thanh Hùng chỉ mất quốc tịch Việt Nam khi: + Có quyết định cho thôi quốc tịch Việt Nam của Chủ tịch nước; hoặc + Bị tước quốc tịch Việt Nam theo quy định của pháp luật. Thứ hai, nếu muốn có giấy tờ pháp lý để chứng minh còn quốc tịch Việt Nam thì ông Trần Thanh Hùng cần phải làm thủ tục đề nghị cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy xác nhận có quốc tịch Việt Nam theo quy định. Bởi vì, theo khoản 2 đã nêu trên và khoản 3 Điều 13 Luật Quốc tịch Việt Nam sửa đổi năm 2025 quy định: “3. Chính phủ quy định trình tự, thủ tục xác nhận có quốc tịch Việt Nam.” và Điều 30 Nghị định số 191/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 đã quy định về Trình tự, thủ tục cấp Giấy xác nhận có quốc tịch Việt Nam. Một số lưu ý: - Trên thực tế, nhiều người Việt Nam ra nước ngoài từ lâu thường nhầm tưởng rằng mình đã mất quốc tịch Việt Nam, trong khi chưa từng làm thủ tục pháp lý về quốc tịch hoặc chưa có quyết định của cơ quan có thẩm quyền cho thoy quốc tịch Việt Nam. - Khi thực hiện các thủ tục như: xác nhận quốc tịch Việt Nam, hồi hương, thừa kế, hộ tịch…, cơ quan có thẩm quyền sẽ căn cứ hồ sơ pháp lý, không căn cứ vào việc sinh sống ở đâu. Thông điệp Sinh sống ở nước ngoài không đồng nghĩa với mất quốc tịch Việt Nam – quốc tịch chỉ thay đổi khi có quyết định của cơ quan có thẩm quyền. + Quốc tịch là quan hệ pháp lý đặc biệt giữa cá nhân và Nhà nước, không tự chấm dứt chỉ vì thay đổi nơi cư trú hay quốc tịch nước ngoài. + Người dân nên chủ động tìm hiểu và thực hiện đúng thủ tục pháp luật để bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp lâu dài của mình. Thúy Hà – Phòng HCTP
14:03 07/01/2026
159
Công dân có quyền được biết, quyền đồng ý, quyền truy cập, chỉnh sửa và yêu cầu xóa dữ liệu cá nhân từ 01/01/2026
Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, dữ liệu cá nhân ngày càng được thu thập, xử lý và sử dụng rộng rãi trong hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội.
16:46 06/01/2026
90
Đối tượng nào được đăng ký mua nhà ở xã hội?
Hỏi: Cán bộ, công chức, viên chức đã nghỉ hưu có được mua nhà ở xã hội không? Vợ chồng ông Nguyễn Quang Đạt đều là giáo viên đã về hưu, đang thường trú tại xã Lương Sơn, tỉnh Lâm Đồng lương hưu của cả hai vợ chồng 20 triệu đồng/tháng, chưa đứng tên nhà đất và chưa được hỗ trợ nhà ở . Ông Đạt đăng ký mua nhà ở xã hội, có xác nhận ở trường về việc ông là viên chức đã nghỉ hưu, có quyết định chế độ hưởng lương hưu hằng tháng, UBND xã cũng xác nhận ông chưa đứng tên nhà đất. Tuy nhiên, Sở Xây dựng không đồng ý nhận hồ sơ với lý do ông là viên chức đã về hưu nên không được hỗ trợ chính sách về nhà ở xã hội, yêu cầu xét theo diện lao động tự do (không hợp đồng lao động). Ông Đạt hỏi, cán bộ, công chức, viên chức về hưu có được mua nhà ở xã hội hay không? Nếu được thì cần làm thủ tục gì, cơ quan nào xác nhận về đối tượng và sẽ thuộc đối tượng nào? Trả lời: Theo quy định của pháp luật về nhà ở hiện hành, cán bộ, công chức, viên chức đã nghỉ hưu vẫn có thể thuộc đối tượng được mua nhà ở xã hội, nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định. Cụ thể, Điều 76 Luật Nhà ở năm 2023 quy định các đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở. Trong đó, khoản 5 Điều 76 xác định “người thu nhập thấp tại khu vực đô thị” là một trong những đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ nhà ở xã hội. Tại khoản 1 Điều 78 Luật Nhà ở năm 2023, quy định: các đối tượng quy định tại các khoản 1, 4, 5, 6, 7, 8, 9 và 10 Điều 76, nếu đáp ứng điều kiện về nhà ở và điều kiện về thu nhập, thì được mua, thuê mua nhà ở xã hội. Nội dung này đã được Nghị định số 100/2024/NĐ-CP ngày 26/7/2024 của Chính phủ quy định chi tiết tại Điều 29 và Điều 30. Về điều kiện nhà ở, khoản 1 Điều 29 Nghị định số 100/2024/NĐ-CP quy định: người đăng ký mua nhà ở xã hội và vợ (chồng) của người đó (nếu có) không có tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất tại địa phương nơi có dự án nhà ở xã hội tại thời điểm nộp hồ sơ. Việc xác nhận tình trạng nhà ở do Văn phòng đăng ký đất đai hoặc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thực hiện theo quy định. Về điều kiện thu nhập, ngày 10/10/2025, Chính phủ ban hành Nghị định số 261/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 100/2024/NĐ-CP. Theo đó, đối với trường hợp người đứng đơn đã kết hôn, tổng thu nhập bình quân hằng tháng thực nhận của người đứng đơn và vợ (chồng) không vượt quá 40 triệu đồng/tháng, tính theo xác nhận của cơ quan, đơn vị có thẩm quyền. Bên cạnh đó, Thông tư số 32/2025/TT-BXD ngày 10/11/2025 của Bộ Xây dựng đã hướng dẫn cụ thể về hồ sơ, giấy tờ chứng minh đối tượng và thu nhập. Theo hướng dẫn tại Mẫu số 01a ban hành kèm theo Thông tư này: - Trường hợp người kê khai đang hưởng lương hưu, việc xác nhận thu nhập được thực hiện bởi cơ quan Bảo hiểm xã hội đang chi trả lương hưu hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đăng ký thường trú, tạm trú hoặc nơi ở hiện tại. - Đối với người đã nghỉ hưu, khi kê khai đối tượng được ghi rõ là “người thu nhập thấp tại khu vực đô thị (nghỉ hưu)”. Như vậy, cán bộ, công chức, viên chức đã nghỉ hưu cũng thuộc đối tượng được hưởng chính sách mua nhà ở xã hội nếu đáp ứng các điều kiện quy định. Trường hợp đã nghỉ chế độ (nghỉ hưu), nếu đáp ứng đầy đủ điều kiện về nhà ở và điều kiện về thu nhập theo quy định của Luật Nhà ở năm 2023 và các văn bản hướng dẫn thi hành, thì được xem xét mua nhà ở xã hội theo đúng đối tượng và trình tự, thủ tục pháp luật quy định. Ngọc Thủy - phòng PBGDPL
15:07 06/01/2026
91
Đối tượng được thụ hưởng Trợ giúp pháp lý
Hỏi: Tôi là mẹ đơn thân đang nuôi con nhỏ, gia đình khó khăn, cho hỏi trường hợp của tôi đang khởi kiện ra tòa tranh chấp tài sản sau ly hôn. Tôi có được trợ giúp pháp lý miễn phí không? Những đối tượng nào được hưởng quyền trợ giúp pháp lý miễn phí?
11:17 26/12/2025
93
Công dân được tiếp cận những loại thông tin nào?
Hỏi: Xin cho biết, những thông tin nào công dân được tiếp cận? Đề nghị cho biết có những hình thức yêu cầu cung cấp thông tin nào? Người yêu cầu cung câp thông tin phải trả những chi phí nào?
11:11 26/12/2025
48
Hỏi đáp về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp_2
HỎI: Hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa là hoạt động gì, được thực hiện trên cơ sở văn bản quy phạm pháp luật nào?
11:07 22/12/2025
45
Hỏi đáp về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp_1
HỎI: Trong hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp có những trách nhiệm gì?
11:05 22/12/2025
37
Không đăng ký kết hôn có đăng ký khai sinh được không?
Chị A chung sống với anh T nhưng không đăng ký kết hôn. Do mâu thuẫn nên T bỏ di và không biết rằng A có thai với T. Sau khi sinh được một bé gái, chị A làm thủ tục khai sinh cho con, chị cho đứa bé mang họ mẹ và trong giấy khai sinh của cháu không có tên người cha. Gần đây, T biết chị A sinh con, qua tìm hiểu biết đó là con mình nên T đã quay lại xin nhận con, hàn gắn mối quan hệ trước đây. Chị A đồng ý cho anh T nhận con gái. Tuy nhiên, chị A băn khoăn không biết chị có thể bổ sung tên T là cha vào giấy khai sinh của đưa bé không? Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết việc này? Trả lời: Theo quy định tại Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng được xác định là cha, mẹ của con. Do đó, nếu anh T muốn nhận con thì anh chị có thể đề nghị cơ quan có thẩm quyền ghi bổ sung tên người cha vào giấy khai sinh của cháu. Tuy nhiên, trước khi ghi bổ sung tên cha vào giấy khai sinh của con, anh T cần phải làm thủ tục đăng ký việc nhận cha cho con. Tại Điều 19 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch quy định về đăng ký nhận cha, mẹ, con như sau: – Ủy ban nhân dân xã ở khu vực biên giới thực hiện đăng ký việc nhận cha, mẹ, con của công dân Việt Nam thường trú tại địa bàn xã đó với công dân của nước láng giềng thường trú tại đơn vị hành chính tương đương cấp xã của Việt Nam, tiếp giáp với xã ở khu vực biên giới của Việt Nam nơi công dân Việt Nam thường trú. – Người yêu cầu đăng ký nhận cha, mẹ, con xuất trình bản chính một trong các giấy tờ là hộ chiếu, chứng minh nhân dân, thẻ căn cước công dân hoặc giấy tờ khác có dán ảnh và thông tin cá nhân do cơ quan có thẩm quyền cấp, còn giá trị sử dụng (sau đây gọi là giấy tờ tùy thân) để chứng minh về nhân thân và trực tiếp nộp hồ sơ tại Ủy ban nhân dân xã; hồ sơ đăng ký nhận cha, mẹ, con gồm các giấy tờ sau đây: + Tờ khai nhận cha, mẹ, con theo mẫu quy định; + Giấy tờ, tài liệu chứng minh quan hệ cha – con hoặc quan hệ mẹ – con; + Bản sao giấy tờ chứng minh nhân thân, chứng minh nơi thường trú ở khu vực biên giới của công dân nước láng giềng. – Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, công chức tư pháp – hộ tịch kiểm tra hồ sơ, niêm yết việc nhận cha, mẹ, con tại trụ sở Ủy ban nhân dân và báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã quyết định. Trường hợp phải xác minh thì thời hạn giải quyết không quá 12 ngày làm việc. – Nếu thấy việc nhận cha, mẹ, con là đúng và không có tranh chấp, công chức tư pháp - hộ tịch ghi nội dung vào Sổ hộ tịch, cùng người có yêu cầu ký, ghi rõ họ tên vào Sổ hộ tịch; Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã ký cấp cho mỗi bên 01 bản chính trích lục hộ tịch. Khi đăng ký việc nhận cha, mẹ, con, các bên cha, mẹ, con phải có mặt. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã ký và cấp cho mỗi bên một bản chính Quyết định công nhận việc nhận cha, mẹ, con. Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi đã đăng ký khai sinh cho người con sẽ căn cứ Quyết định này để ghi bổ sung phần khai về cha, mẹ trong Sổ đăng ký khai sinh và bản chính Giấy khai sinh của người con. Như vậy, để bổ sung tên anh T trong giấy khai sinh cho con, thì trước tiên anh T, chị A phải làm thủ tục đăng ký việc nhận cha cho con. Sau khi có quyết định công nhận việc nhận cha, con, UBND cấp xã, nơi chị A đã đăng ký khai sinh cho con sẽ ghi bổ sung phần khai về cha trong sổ đăng ký khai sinh và bản chính Giấy khai sinh của con. Kim Cúc – Phòng HCTP
09:21 22/12/2025
35
Tìm hiểu Luật Đầu tư năm 2020
14:23 18/11/2025
36
Nâng cao ý thức đảm bảo an toàn giao thông lứa tuổi học sinh
14:13 18/11/2025
31
Trang
123
Liên kết
Thống kê truy cập
  • Đang online: 27
  • Hôm nay: 181
  • Trong tuần: 1847
  • Trong tháng: 13946
  • Tổng truy cập: 38397