Chặt hạ cây xanh, khi nào cần xin phép?

17:05 28/09/2026

Cây xanh có mặt ở khắp nơi và gắn với đời sống hàng ngày của chúng ta, tuy nhiên, không phải ai cũng biết được các quy định về quản lý cây xanh, đây là lý do dẫn đến khả năng tiềm ẩn rủi ro trong việc quản lý, sử dụng cây xanh. Thực tế thời gian qua đã có nhiều vụ việc bị xử phạt vi phạm hành chính liên quan đến chặt hạ cây xanh.

XIN NHẬP QUỐC TỊCH VIỆT NAM NHƯNG VẪN MUỐN GIỮ QUỐC TỊCH NƯỚC NGOÀI, CÓ ĐƯỢC KHÔNG?
Trường hợp của bà Phương, là công dân Việt Nam, có chồng là người Pháp. Hai vợ chồng đã sinh sống ổn định, lâu dài tại Việt Nam gần 15 năm và hiện đang sinh sống tại tỉnh Lâm Đồng. Trong quá trình tìm hiểu về thủ tục quốc tịch, bà Phương muốn hỏi: Chồng bà là người Pháp, đã sinh sống lâu dài tại Việt Nam, nay muốn xin nhập quốc tịch Việt Nam nhưng vẫn giữ quốc tịch Pháp thì có được không? Nếu được thì cần đáp ứng những điều kiện gì và hồ sơ phải nộp ở đâu? Đây cũng là vấn đề được nhiều người quan tâm khi người nước ngoài có thời gian sinh sống lâu dài, có quan hệ hôn nhân, gia đình và gắn bó với Việt Nam nhưng vẫn mong muốn duy trì quốc tịch nước ngoài. Trả lời: Thứ nhất, chồng bà Phương có được xin nhập quốc tịch Việt Nam không? Theo Điều 19 Luật Quốc tịch Việt Nam, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 79/2025/QH15, người nước ngoài có đơn xin nhập quốc tịch Việt Nam có thể được xem xét nhập quốc tịch nếu đáp ứng các điều kiện theo quy định. Đáng chú ý, pháp luật mới quy định người xin nhập quốc tịch Việt Nam có vợ hoặc chồng là công dân Việt Nam thuộc trường hợp được miễn một số điều kiện về nhập quốc tịch, trong đó không phải đáp ứng điều kiện về biết tiếng Việt, thời gian thường trú từ 05 năm trở lên và khả năng bảo đảm cuộc sống tại Việt Nam theo quy định chung. Như vậy, nếu chồng bà Phương là người Pháp và có quan hệ hôn nhân hợp pháp với bà Phương (là công dân Việt Nam) thì ông thuộc trường hợp được pháp luật tạo điều kiện thuận lợi hơn khi xin nhập quốc tịch Việt Nam. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng việc đã sinh sống tại Việt Nam gần 15 năm không tự động đồng nghĩa với việc đã đáp ứng mọi điều kiện về cư trú. Theo Nghị định số 191/2025/NĐ-CP, người xin nhập quốc tịch Việt Nam thuộc trường hợp có vợ hoặc chồng là công dân Việt Nam vẫn phải đáp ứng điều kiện đang thường trú tại Việt Nam (Có thẻ thường trú); việc có được miễn điều kiện về thời gian thường trú 05 năm, không đồng nghĩa với việc được miễn yêu cầu đang thường trú. Do đó, việc xin nhập quốc tịch Việt Nam của chồng bà Phương là có thể. Thứ hai, chồng bà Phương có được giữ quốc tịch Pháp khi xin nhập quốc tịch Việt Nam không? Có thể được xem xét giữ quốc tịch Pháp, nhưng không phải đương nhiên được giữ. Theo khoản 6 Điều 19 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2025, người xin nhập quốc tịch Việt Nam thuộc các trường hợp được luật quy định, trong đó có trường hợp có vợ hoặc chồng là công dân Việt Nam, có thể được giữ quốc tịch nước ngoài nếu đáp ứng các điều kiện: Việc giữ quốc tịch nước ngoài phù hợp với pháp luật của nước đó; Việc sử dụng quốc tịch nước ngoài không được gây phương hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; không xâm hại an ninh, lợi ích quốc gia, trật tự, an toàn xã hội của Việt Nam; và được Chủ tịch nước cho phép. Đối với trường hợp cụ thể của chồng bà Phương, pháp luật Pháp cho phép một người có thể có nhiều quốc tịch; do đó, về nguyên tắc, việc giữ quốc tịch Pháp không trái với pháp luật Pháp. Tuy nhiên, khi giải quyết hồ sơ tại Việt Nam vẫn phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện của pháp luật Việt Nam quy định và phải được Chủ tịch nước cho phép. Thứ ba, để xin nhập quốc tịch Việt Nam đồng thời giữ quốc tịch Pháp cần những giấy tờ gì? Theo khoản 3 Điều 13 Nghị định số 191/2025/NĐ-CP, người xin nhập quốc tịch Việt Nam đồng thời xin giữ quốc tịch nước ngoài phải có: Giấy tờ chứng minh việc giữ quốc tịch nước ngoài phù hợp với pháp luật nước đó và bản cam kết theo quy định. Nếu người xin nhập quốc tịch Việt Nam đồng thời xin giữ quốc tịch nước ngoài không đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo khoản 6 Điều 19 Luật Quốc tịch Việt Nam, thì phải thực hiện thủ tục thôi quốc tịch nước ngoài theo quy định. Thứ tư, hồ sơ được nộp ở đâu? Theo quy định hiện hành, người xin nhập quốc tịch Việt Nam phải trực tiếp nộp hồ sơ tại Sở Tư pháp nơi mình cư trú. Đối với trường hợp chồng bà Phương đang cư trú tại tỉnh Lâm Đồng, hồ sơ được nộp tại Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng theo quy định về thẩm quyền và trình tự giải quyết hồ sơ quốc tịch. Công dân đến liên hệ Bộ phận một cửa Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng để được tư vấn thực hiện thủ tục về quốc tịch Kể từ khi Luật Quốc tịch sửa đổi năm 2025 có hiệu lực, Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng đã tiếp nhận và hướng dẫn nhiều trường hợp người dân đến tìm hiểu về thủ tục quốc tịch, trong đó có việc xin nhập quốc tịch Việt Nam và giữ quốc tịch nước ngoài. Qua thực tế hướng dẫn, nhiều trường hợp chưa đáp ứng đầy đủ điều kiện để được giữ quốc tịch nước ngoài. Từ những vướng mắc phát sinh trong thực tiễn, ngày 27/8/2026, Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng đã lồng ghép nội dung giải đáp các vấn đề thường gặp trong lĩnh vực quốc tịch vào Hội nghị tập huấn chuyên sâu về giải quyết thủ tục hành chính, qua đó giúp các đại biểu tham dự nắm rõ hơn những quy định mới, cách xác định điều kiện và hướng xử lý đối với từng trường hợp cụ thể. Đây cũng là dịp để Sở Tư pháp trao đổi, thống nhất cách hiểu và nâng cao kỹ năng hướng dẫn, phối hợp giải quyết thủ tục quốc tịch tại cơ sở nếu có phát sinh. Đại biểu có ý kiến trao đổi về quốc tịch tại Hội nghị tập huấn ngày 27/8/2026 do Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng tổ chức Qua trường hợp trên cho thấy, mặc dù chính sách pháp luật về quốc tịch Việt Nam đã thông thoáng và linh hoạt hơn, tạo điều kiện cho một số trường hợp được nhập quốc tịch Việt Nam đồng thời giữ quốc tịch nước ngoài, nhưng vẫn bảo đảm các nguyên tắc về quốc tịch, an ninh, lợi ích quốc gia và trật tự, an toàn xã hội. Người xin nhập quốc tịch Việt Nam phải thuộc trường hợp luật định, đáp ứng đầy đủ các điều kiện, có giấy tờ chứng minh theo quy định và được Chủ tịch nước cho phép. Muốn nhập quốc tịch Việt Nam nhưng vẫn giữ quốc tịch nước ngoài — có thể được chấp thuận, nhưng không phải trường hợp nào cũng được phép. Do vậy, cần hiểu đúng pháp luật – chuẩn bị đúng hồ sơ – thực hiện đúng thủ tục. Khi có nhu cầu, người dân có thể liên hệ Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng để được hướng dẫn cụ thể theo quy định pháp luật hiện hành. Thúy Hà – phòng HCTP
10:56 28/08/2026
445
CẢI CHÍNH NĂM SINH LÀM PHÁT SINH VIỆC KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT: GIẢI QUYẾT NHƯ THẾ NÀO?
Trường hợp của ông Trần Văn Thơ đề nghị UBND xã Hàm Thuận cải chính thông tin trong Giấy chứng nhận kết hôn được UBND xã Hàm Thuận cấp ngày 03/8/1983. Ông Thơ đề nghị cải chính năm sinh từ 1961 thành 1964. Ông cung cấp các giấy tờ hiện nay và Giấy khai sinh được đăng ký lại (năm 2025) đều thể hiện năm sinh 1964. Trường hợp trên, nếu cải chính năm sinh trên Giấy chứng nhận kết hôn thì tại thời điểm đăng ký kết hôn ông Trần Văn Thơ chưa đủ tuổi đăng ký kết hôn theo Điều 6 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 (con gái từ 18 tuổi trở lên, con trai từ 20 tuổi trở lên mới được kết hôn). Việc cải chính sẽ dẫn đến việc đăng ký kết hôn của ông Trần Văn Thơ là trái quy định pháp luật. Hỏi: Trường hợp của ông Trần Văn Thơ có được cải chính không? Đáp: Theo quy định, cải chính hộ tịch chỉ được thực hiện khi có đủ căn cứ xác định có sai sót trong quá trình đăng ký hộ tịch do lỗi của công chức làm công tác hộ tịch hoặc do người yêu cầu đăng ký hộ tịch. Không được cải chính giấy tờ hộ tịch đã được cấp hợp lệ chỉ nhằm hợp thức hóa thông tin trên các giấy tờ khác (khoản 2 Điều 7 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ). Vì vậy, trước khi quyết định cải chính, cơ quan đăng ký hộ tịch phải kiểm tra, xác minh đầy đủ căn cứ pháp lý và quá trình đăng ký hộ tịch. Hỏi: Vậy Giấy khai sinh có phải là căn cứ để điều chỉnh thông tin trên Giấy công nhận kết hôn không? Đáp: Về nguyên tắc, Giấy khai sinh được đăng ký đúng quy định là giấy tờ hộ tịch gốc của cá nhân. Các hồ sơ, giấy tờ khác có thông tin về ngày, tháng, năm sinh phải phù hợp với Giấy khai sinh. Trường hợp thông tin khác với Giấy khai sinh thì cơ quan quản lý hồ sơ, giấy tờ có trách nhiệm điều chỉnh cho phù hợp (Điều 6 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ). Tuy nhiên, trong trường hợp của ông Trần Văn Thơ, Giấy khai sinh được đăng ký lại sau thời điểm cấp Giấy chứng nhận kết hôn năm 1983. Do đó, không thể chỉ căn cứ vào Giấy khai sinh đăng ký lại để giải quyết ngay yêu cầu cải chính mà cần kiểm tra tính hợp pháp của việc đăng ký lại khai sinh. Hỏi: Cơ quan đăng ký hộ tịch cần kiểm tra những nội dung gì? Đáp: UBND xã Hàm Thuận cần kiểm tra, đối chiếu và xác minh việc đăng ký lại khai sinh của ông Trần Văn Thơ, trong đó cần làm rõ thẩm quyền, quy trình, thủ tục, thành phần hồ sơ và căn cứ đăng ký lại khai sinh có bảo đảm đúng quy định pháp luật hay không. Hình ảnh: người dân thực hiện TTHC tại Bộ phận Một cửa của UBND xã Hàm Thuận Hỏi: Nếu xác định việc đăng ký lại khai sinh là đúng quy định thì xử lý như thế nào? Đáp: Nếu việc đăng ký lại khai sinh được xác định là đúng quy định pháp luật thì căn cứ Giấy khai sinh được cấp hợp lệ để thực hiện cải chính thông tin trên Giấy chứng nhận kết hôn. Tuy nhiên, cần đặc biệt lưu ý một vấn đề pháp lý quan trọng: nếu cải chính năm sinh của ông Thơ từ 1961 thành 1964, thì tại thời điểm đăng ký kết hôn năm 1983, ông Thơ chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định pháp luật tại thời điểm đó. Điều này dẫn đến việc đăng ký kết hôn được xác định là trái quy định pháp luật. Hỏi: Nếu đã xác định việc cải chính sẽ dẫn đến xác định cuộc hôn nhân được đăng ký trái pháp luật thì UBND xã có tự ý hủy Giấy chứng nhận kết hôn không? Đáp: Không. Trường hợp Giấy khai sinh được xác định cấp hợp lệ và các giấy tờ khác phải điều chỉnh theo Giấy khai sinh, thì đối với Giấy chứng nhận kết hôn đã cấp, trước khi cải chính phải đề nghị Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật (theo quy định tại khoản 2, 3 Điều 10 và khoản 1, 2 và 3 Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014). Hỏi: Nếu Tòa án vẫn công nhận quan hệ hôn nhân thì giải quyết thế nào? Đáp: Trường hợp Tòa án giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật nhưng vẫn công nhận quan hệ hôn nhân theo quy định, UBND xã Hàm Thuận thực hiện ghi vào Sổ hộ tịch việc công nhận quan hệ hôn nhân đó và hướng dẫn công dân thực hiện thủ tục cải chính hộ tịch theo quy định. Hỏi: Nếu Tòa án quyết định hủy việc kết hôn và không công nhận quan hệ hôn nhân thì sao? Đáp: UBND xã Hàm Thuận căn cứ quyết định của Tòa án để ghi vào Sổ hộ tịch việc hủy kết hôn. Nếu công dân có nhu cầu xác lập quan hệ hôn nhân thì thực hiện đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật hiện hành. Hỏi: Vậy, nếu phát hiện việc đăng ký lại khai sinh năm 2025 không đúng quy định thì sao? Đáp: Nếu xác định việc đăng ký lại khai sinh không bảo đảm các nguyên tắc, quy định pháp luật, chẳng hạn không căn cứ vào bản sao Giấy khai sinh hoặc giấy tờ được cấp hợp lệ đầu tiên, thì căn cứ kết quả kiểm tra, xác minh để xử lý theo quy định, có thể thực hiện cải chính hoặc thu hồi, hủy bỏ. Hỏi: Qua tình huống này, cán bộ hộ tịch cần lưu ý điều gì? Đáp: Khi giải quyết yêu cầu cải chính hộ tịch, không nên chỉ căn cứ vào giấy tờ hiện có của công dân mà phải xác định rõ nguồn gốc thông tin, trình tự đăng ký hộ tịch và căn cứ pháp lý của giấy tờ được cấp. Đặc biệt, đối với những trường hợp giấy tờ hộ tịch được đăng ký lại sau khi một sự kiện hộ tịch khác đã được đăng ký, cần kiểm tra tính hợp pháp của việc đăng ký lại trước khi sử dụng giấy tờ đó làm căn cứ cải chính. Trường hợp ông Trần Văn Thơ cho thấy việc cải chính một thông tin tưởng như đơn giản là năm sinh có thể làm phát sinh hệ quả pháp lý đối với một sự kiện hộ tịch đã được đăng ký trước đó. Vì vậy, việc giải quyết phải được thực hiện thận trọng, có kiểm tra, xác minh đầy đủ và bảo đảm đúng trình tự, thẩm quyền. Kim Oanh, Phòng HCTP
09:12 24/08/2026
156
Thực hiện đăng Ký Khai sinh "Phi Địa Giới", có được không?
Buổi chiều phòng bệnh ngập tràn ánh nắng, chị Mai đang ru bé Bi – thiên thần nhỏ vừa tròn hai ngày tuổi – ngủ ngoan trong nôi. Anh Nam, chồng chị ngồi bên cạnh, tay cầm chiếc điện thoại lướt xem các hội nhóm làm cha mẹ, lông mày hơi nhíu lại vì lo lắng về thủ tục đăng ký khai sinh cho con. Thấy chồng trằn trọc, chị Mai khẽ cười, trêu: – "Bố cái Bi làm gì mà mặt nặng mày nhẹ thế? Đừng bảo là lo không biết làm khai sinh cho con nhé." Anh Nam thở dài, quay sang vợ: – "Anh đang lo đây em ạ. Anh vừa đọc trên mạng thấy người ta bàn tán chuyện làm giấy khai sinh phức tạp lắm. Nào là phải về tận quê nội theo nơi thường trú, nào là xếp hàng chuẩn bị cả xấp giấy tờ bản sao mệt nghỉ. Không khéo anh phải xin nghỉ liền mấy buổi làm việc ấy chứ." Chị Mai bật cười thành tiếng, đặt nhẹ tay lên vai chồng: – "Anh lại đọc thông tin cũ rích ở đâu rồi! Thời buổi nào rồi mà còn phải lo cảnh ngược xuôi như thế. Em đã tìm hiểu kỹ các quy định pháp luật mới nhất rồi đây này. Để em 'vấn đáp' cho anh thông suốt nhé!" Anh Nam tò mò, kéo ghế ngồi sát lại: – "Thật á? Thế em hỏi thử xem nào, anh đang đau đầu mấy cái vụ này đây." Câu hỏi 1. Anh Nam có nhất thiết phải về quê (nơi đăng ký thường trú) để đăng ký khai sinh cho con không? Trả lời: Theo quy định tại Luật Hộ tịch 2014, anh Nam bắt buộc phải về UBND cấp xã nơi cư trú (thường trú hoặc tạm trú) của cha hoặc mẹ để đăng ký khai sinh cho con. Tuy nhiên, theo quy định mới tại Luật Hộ tịch 2026 (có hiệu lực từ ngày 01/3/2027), việc này đã được đổi mới hoàn toàn theo hình thức "phi địa giới": Người dân không bắt buộc phải về nơi cư trú. Anh Nam có thể đến bất kỳ UBND cấp xã nào trên cả nước để thực hiện thủ tục mà không còn bị ràng buộc bởi địa giới hành chính. Câu hỏi 2: Thời hạn giải quyết thủ tục đăng ký khai sinh là bao lâu? Trả lời: Theo quy định tại Luật Hộ tịch 2014, thời hạn giải quyết việc đăng ký khai sinh là ngay trong ngày, trường hợp cần xác minh thì không quá 05 ngày làm việc. Từ ngày 01/3/2027 Luật Hộ tịch 2026 có hiệu lực thi hành, thời hạn này đã được "định lượng hóa" cụ thể hơn đối với các thủ tục hộ tịch mà pháp luật không quy định thời hạn riêng, bắt buộc phải được giải quyết trong vòng 24 giờ kể từ khi cơ quan có thẩm quyền nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Câu hỏi 3: Người dân có phải nộp nhiều giấy tờ bản sao như hộ khẩu, căn cước công dân, giấy chứng sinh không? Trả lời: Tuyệt đối không cần chuẩn bị các bản sao rườm rà. Luật Hộ tịch 2026 áp dụng nguyên tắc "chỉ cung cấp thông tin một lần". Theo đó, cơ quan đăng ký hộ tịch có trách nhiệm chủ động khai thác và tra cứu trực tiếp dữ liệu từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư; cơ quan nhà nước không được yêu cầu người dân nộp hoặc xuất trình lại những giấy tờ, dữ liệu mà hệ thống đã có sẵn. Câu hỏi 4: Theo quy định Luật Hộ tịch 2026 có hình thức đăng ký khai sinh chủ động nào không? Trả lời: Có. Luật Hộ tịch 2026 đã bổ sung cơ chế đăng ký hộ tịch chủ động (tự động hóa). Khi các cơ sở khám chữa bệnh kết nối dữ liệu thông suốt với hệ thống hộ tịch điện tử, cơ quan chức năng sẽ chủ động thực hiện việc đăng ký khai sinh cho trẻ. Lộ trình triển khai ứng dụng đồng bộ trên toàn quốc chậm nhất là vào ngày 01/01/2031. Bài học rút ra: Cập nhật kiến thức pháp luật thường xuyên: Việc nắm bắt kịp thời các quy định mới giúp người dân tiết kiệm tối đa thời gian, công sức và chi phí đi lại, tránh việc áp dụng máy móc các thủ tục cũ đã được sửa đổi, thay thế. Tận dụng lợi thế chuyển đổi số: Khi Nhà nước đẩy mạnh cải cách hành chính, ứng dụng Cơ sở dữ liệu quốc gia và nguyên tắc "chỉ cung cấp thông tin một lần", quyền và lợi ích hợp pháp của người dân được đặt lên hàng đầu, đảm bảo tính công khai, minh bạch, nhanh chóng và chính xác. Châu Vân – Phòng HCTP
11:28 13/08/2026
224
XÁC ĐỊNH QUỐC TỊCH KHI ĐĂNG KÝ KHAI SINH - XÁC LẬP ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA CÁ NHÂN TRONG QUAN HỆ VỚI NHÀ NƯỚC
Xác định quốc tịch khi đăng ký khai sinh là một trong những nội dung cốt lõi của đăng ký hộ tịch, bởi đây không chỉ là việc ghi nhận một thông tin nhân thân mà còn là cơ sở xác lập địa vị pháp lý của cá nhân trong quan hệ với Nhà nước. Nếu xác định không đúng quốc tịch của trẻ, có thể làm phát sinh nhiều hệ quả pháp lý như hạn chế quyền nhân thân, quyền cư trú, quyền học tập, chăm sóc y tế, quyền được bảo hộ …; đồng thời có thể dẫn đến xung đột quốc tịch hoặc nghiêm trọng hơn là làm trẻ rơi vào tình trạng không quốc tịch. Luật Hộ tịch quy định việc xác định quốc tịch của người được khai sinh phải tuân theo pháp luật về quốc tịch. Với mục tiêu xuyên suốt là hạn chế tối đa tình trạng không quốc tịch, Luật Quốc tịch Việt Nam đã có quy định về việc xác định quốc tịch đối với từng trường hợp cụ thể như sau: Thứ nhất, đối với nhóm trẻ em sinh ra có cả cha và mẹ là công dân Việt Nam: Điều 15 của Luật Quốc tịch Việt nam năm 2008 quy định: trẻ em sinh ra trong hoặc ngoài lãnh thổ Việt Nam mà khi sinh ra có cha, mẹ đều là công dân Việt Nam thì có quốc tịch Việt Nam. Trên thực tế, vẫn có cách hiểu chưa thống nhất đối với trường hợp trẻ em có cả cha và mẹ là công dân Việt Nam nhưng sinh ra ở nước ngoài. Đối với trường hợp này cần hiểu rằng, trẻ em có quốc tịch Việt Nam ngay từ thời điểm sinh ra, không phụ thuộc vào việc được khai sinh và xác định có quốc tịch nước ngoài hay chưa. Nghĩa là, trong mọi trường hợp trẻ em sinh ra trong hay ngoài lãnh thổ Việt Nam mà có cha mẹ là công dân Việt Nam, thì trẻ em có quốc tịch Việt Nam mà không phụ thuộc vào việc trẻ em đã được đăng ký khai sinh và xác định có quốc tịch nước ngoài hay chưa. Hình ảnh giải quyết các việc hộ tịch cho người dân tại UBND xã Quảng Trực - xã biên giới của tỉnh Lâm Đồng Thứ hai, đối với nhóm trẻ em có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam còn người kia là công dân nước ngoài: Khoản 2 Điều 16 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 được sửa đổi tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quốc tịch Việt Nam, quy định: Trẻ em sinh ra có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam còn người kia là công dân nước ngoài thì có quốc tịch Việt Nam, nếu cha mẹ thỏa thuận lựa chọn quốc tịch Việt Nam cho con khi thực hiện thủ tục về khai sinh tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam. Trường hợp trẻ em được sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam mà cha mẹ không thỏa thuận được việc lựa chọn quốc tịch cho con thì trẻ em đó có quốc tịch Việt Nam. Khoản 1 Điều 9 Nghị định số 191/2025/NĐ-CP quy định Xác định quốc tịch của trẻ em khi thực hiện thủ tục về khai sinh đối với trường hợp trẻ em sinh ra có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam còn người kia là công dân nước ngoài, cụ thể: + Trẻ em có quốc tịch Việt Nam nếu cha mẹ thỏa thuận lựa chọn quốc tịch Việt Nam cho con khi thực hiện đăng ký khai sinh. Thỏa thuận lựa chọn quốc tịch cho con khi đăng ký khai sinh có yếu tố nước ngoài + Trường hợp trẻ em được sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam mà cha mẹ không thỏa thuận được việc lựa chọn quốc tịch cho con khi thực hiện đăng ký khai sinh thì trẻ em đó có quốc tịch Việt Nam. Cha hoặc mẹ lập văn bản cam đoan về việc không thỏa thuận được việc lựa chọn quốc tịch cho con và chịu trách nhiệm về việc cam đoan này. + Trường hợp trẻ em đã được đăng ký khai sinh tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài, có quốc tịch nước ngoài thì trẻ em đó có quốc tịch Việt Nam nếu cha mẹ thỏa thuận lựa chọn quốc tịch Việt Nam cho con khi thực hiện ghi vào Sổ hộ tịch việc khai sinh và việc giữ quốc tịch nước ngoài phải phù hợp với pháp luật của nước mà trẻ đang mang quốc tịch. Cha mẹ trẻ phải có bản cam đoan về việc giữ quốc tịch nước ngoài phù hợp với pháp luật của nước mà trẻ đang mang quốc tịch và chịu trách nhiệm về việc cam đoan này. + Trường hợp cha, mẹ lựa chọn quốc tịch nước ngoài cho con khi đăng ký khai sinh, thì ngoài văn bản thỏa thuận lựa chọn quốc tịch còn phải có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền của nước mà trẻ được chọn mang quốc tịch về việc trẻ có quốc tịch phù hợp quy định pháp luật của nước đó. Nếu cơ quan có thẩm quyền nước ngoài không xác nhận thì cơ quan đăng ký hộ tịch thực hiện đăng ký khai sinh cho trẻ, nhưng để trống phần ghi về quốc tịch trong Giấy khai sinh và Sổ đăng ký khai sinh. Thứ ba, đối với trẻ em khi sinh ra có cha hoặc mẹ là người không quốc tịch: Điều 17 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 quy định: Trẻ em sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam mà khi sinh ra có cha mẹ đều là người không quốc tịch, nhưng có nơi thường trú tại Việt Nam thì có quốc tịch Việt Nam. Trẻ em sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam mà khi sinh ra có mẹ là người không quốc tịch, nhưng có nơi thường trú tại Việt Nam, còn cha không rõ là ai thì có quốc tịch Việt Nam. Thứ tư, xác định quốc tịch của trẻ sơ sinh bị bỏ rơi, trẻ em được tìm thấy trên lãnh thổ Việt Nam: Để bảo vệ quyền, lợi ích của trẻ, Điều 18 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 quy định: Trẻ sơ sinh bị bỏ rơi, trẻ em được tìm thấy trên lãnh thổ Việt Nam mà không rõ cha mẹ là ai thì có quốc tịch Việt Nam, trường hợp trẻ tìm thấy cha mẹ mà cha mẹ chỉ có quốc tịch nước ngoài hoặc chỉ tìm thấy cha hoặc mẹ mà người đó chỉ có quốc tịch nước ngoài thì trẻ chưa đủ 15 tuổi không còn quốc tịch Việt Nam. Như vậy, việc xác định đúng quốc tịch ngay khi đăng ký khai sinh là biện pháp phòng ngừa hiệu quả nhất nhằm giảm thiểu tình trạng không quốc tịch và bảo đảm quyền trẻ em. Có thể thấy rằng pháp luật Việt Nam đã thiết lập tương đối đầy đủ cơ chế xác định quốc tịch khi đăng ký khai sinh theo hướng kết hợp giữa Luật Hộ tịch và Luật Quốc tịch Việt Nam. Các quy định hiện hành thể hiện rõ chính sách ưu tiên bảo đảm mọi trẻ em đều có quốc tịch ngay từ khi sinh, đặc biệt thông qua việc công nhận quốc tịch Việt Nam trong các trường hợp trẻ có nguy cơ không quốc tịch như trẻ bị bỏ rơi, trẻ chưa xác định được cha mẹ hoặc trẻ sinh tại Việt Nam có cha mẹ không quốc tịch thường trú tại Việt Nam. Tuy nhiên, trong bối cảnh gia tăng các quan hệ hôn nhân và di cư có yếu tố nước ngoài, vẫn còn những khó khăn trong việc xác minh quốc tịch nước ngoài, phối hợp giữa các cơ quan và áp dụng pháp luật nước ngoài. Vì vậy, việc tiếp tục hoàn thiện cơ chế xác định quốc tịch theo hướng vừa bảo đảm đúng quy định của pháp luật hộ tịch, vừa đặt quyền có quốc tịch của trẻ em làm trung tâm sẽ góp phần thực hiện tốt cam kết của Việt Nam trong bảo vệ quyền con người và phòng ngừa tình trạng không quốc tịch. Chu Nga – Phòng Hành chính tư pháp
09:15 04/08/2026
725
TRẺ BỊ BỎ RƠI, XÁC ĐỊNH ĐƯỢC DANH TÍNH NGƯỜI MẸ THÌ XỬ LÝ NHƯ THẾ NÀO?
Trường hợp về một trẻ bị bỏ rơi tại Khoa Nhi, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lâm Đồng. Công an phường Cam Ly - Đà Lạt lập Biên bản trẻ bị bỏ rơi ngày 06/7/2026, trẻ là bé trai đã được điều trị tại Khoa Nhi khoảng 02 tháng nhưng không có người thân đến chăm sóc hoặc nhận về. Có Căn cước công dân của sản phụ tên Phạm Thị Hương và bản gốc Giấy chứng sinh do bệnh viện cấp ngày 18/4/2026, qua tra cứu Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, công dân Phạm Thị Hương có đăng ký thường trú tại thôn Ngọc Thành, xã Minh Sơn, tỉnh Thanh Hóa; đăng ký tạm trú tại số 12 đường Chi Lăng, phường Lâm Viên - Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Hiện nay, trẻ đã được bàn giao cho Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Lâm Đồng và UBND phường Cam Ly - Đà Lạt đã thực hiện niêm yết, hết thời hạn niêm yết không có cha, mẹ trẻ đến nhận. Hình ảnh: Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lâm Đồng Hỏi: Trường hợp bé trai không có người thân đến nhận này đăng ký khai sinh thuộc trường hợp trẻ bị bỏ rơi hay thuộc trường hợp trẻ không xác định cha, mẹ? Trả lời: Trường hợp trên, qua tra cứu có thông tin xác thực người mẹ là bà Phạm Thị Hương, đăng ký thường trú tại thôn Ngọc Thành, xã Minh Sơn, tỉnh Thanh Hóa; đăng ký tạm trú tại số 12 đường Chi Lăng, phường Lâm Viên - Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Do đó, thuộc trường hợp đăng ký khai sinh cho trẻ chưa xác định được cha. Hỏi: Vậy trụ sở Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lâm Đồng nằm trên địa bàn UBND phường Cam Ly – Đà Lạt, thì thẩm quyền đăng ký khai sinh cho trẻ có phải thuộc thẩm quyền của UBND phường Cam Ly – Đà Lạt hay không? Trả lời: Không. Căn cứ Điều 13 Luật Hộ tịch năm 2014, việc đăng ký khai sinh thuộc thẩm quyền của UBND cấp xã nơi cư trú của người cha hoặc mẹ. Đồng thời, khoản 1 Điều 11 Luật Cư trú năm 2020 quy định: “Nơi cư trú của công dân bao gồm nơi thường trú và tạm trú.”. Do đó, việc đăng ký khai sinh thuộc thẩm quyền của UBND cấp xã nơi cư trú của bà Phạm Thị Hương (nơi thường trú hoặc nơi tạm trú). Hình ảnh: người dân đến Trung tâm Phục vụ hành chính công nộp hồ sơ Hỏi: Trong trường hợp này, cá nhân, cơ quan, tổ chức nào có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho trẻ? Trả lời: Theo khoản 1 Điều 15 Luật Hộ tịch năm 2014 quy định: “Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày sinh con, cha hoặc mẹ có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho con; trường hợp cha, mẹ không thể đăng ký khai sinh cho con thì ông hoặc bà hoặc người thân thích khác hoặc cá nhân, tổ chức đang nuôi dưỡng trẻ em có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho trẻ em.”. Trường hợp trên, do Trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh Lâm Đồng đang tiếp nhận, chăm sóc trẻ, nên Trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh Lâm Đồng có trách nhiệm liên hệ cơ quan có thẩm quyền để đăng ký khai sinh cho trẻ. Hỏi: Còn các nội dung về họ, dân tộc, quê quán, quốc tịch của trẻ được xác định như thế nào? Trả lời: Các nội dung về họ, dân tộc, quê quán, quốc tịch của trẻ được xác định theo họ, dân tộc, quê quán, quốc tịch của mẹ; phần ghi về cha trong Sổ hộ tịch và Giấy khai sinh của trẻ để trống (căn cứ khoản 2 Điều 15 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2015 của Chính phủ). THÔNG ĐIỆP: Mỗi trẻ em đều có quyền được khai sinh, dù bị bỏ rơi hay không có cha mẹ trực tiếp chăm sóc. Không để bất kỳ trẻ em nào bị bỏ lại phía sau - Mỗi trẻ đều có quyền được khai sinh, được xác lập nhân thân và được pháp luật bảo vệ. Kim Oanh – phòng HCTP
14:37 28/07/2026
389
ĐIỀU KIỆN THÀNH LẬP HỘI ĐỒNG THẨM ĐỊNH GIÁ TRONG CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC
Câu hỏi: Tại Sở A - Đơn vị quản lý hành chính nhà nước (gọi tắt là Sở A), sau khi thực hiện chủ trương hợp nhất chính quyền địa phương 02 cấp, tài sản của Sở A bị dôi dư cần thực hiện thanh lý tài sản công. Hiện tại, Sở A có 02 công chức có Chứng chỉ bồi dưỡng thẩm định giá nhà nước. Vậy, Sở A có được thành lập Hội đồng thẩm định giá gồm 04 thành viên để định giá các tài sản cần thành lý theo Luật Giá năm 2023 và các văn bản hướng dẫn thi hành không? Trả lời: Căn cứ theo quy định tại Khoản 2 Điều 60 Luật Giá năm 2023 và các văn bản hướng dẫn thi hành (Nghị định số 85/2024/NĐ-CP ngày 10/7/2024 của Chính phủ), cơ cấu Hội đồng 04 thành viên của Sở A hoàn toàn đáp ứng đầy đủ các điều kiện của pháp luật. Đáp ứng điều kiện về số lượng tối thiểu Pháp luật quy định Hội đồng thẩm định giá của Nhà nước phải có tối thiểu 03 thành viên. Việc Sở A thành lập Hội đồng gồm 04 thành viên là hoàn toàn hợp pháp về mặt số lượng. (Trường Bồi dưỡng cán bộ Kinh tế - Tài chính, Bộ Tài chính phối hợp với Sở Tài chính tỉnh Lâm Đồng tổ chức các lớp Bồi dưỡng chứng chỉ thẩm định giá nhà nước tại tỉnh Lâm Đồng) Đáp ứng điều kiện về tỷ lệ năng lực chuyên môn Đây là điều kiện cốt lõi và nghiêm ngặt nhất của Luật Giá năm 2023. Quy định nêu rõ: Hội đồng thẩm định giá phải có ít nhất 50% số lượng thành viên (bao gồm cả Chủ tịch Hội đồng) đáp ứng tiêu chuẩn về năng lực chuyên môn (có bằng cấp về giá/thẩm định giá, Thẻ thẩm định viên về giá hoặc Chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức, nghiệp vụ về thẩm định giá/thẩm định giá nhà nước). Xét trường hợp cụ thể của Sở A: Tổng số thành viên Hội đồng: 04 người. Số thành viên có Chứng chỉ bồi dưỡng thẩm định giá nhà nước: 02 người. Tỷ lệ thành viên có chuyên môn: 2/4 = 50% (Đạt tỷ lệ tối thiểu phải có ít nhất 50% theo luật định). Lưu ý quan trọng khi bố trí nhân sự tại Sở A Để quyết định thành lập Hội đồng hoàn toàn hợp lệ, Sở A cần lưu ý cấu trúc nhân sự như sau: Vị trí Chủ tịch Hội đồng: Phải do Lãnh đạo Sở A (hoặc người được ủy quyền hợp pháp) đảm nhiệm. Nếu một trong hai công chức có chứng chỉ nêu trên là Lãnh đạo Sở, người đó có thể kiêm nhiệm luôn vị trí Chủ tịch Hội đồng. Nếu Lãnh đạo Sở không có chứng chỉ, vẫn làm Chủ tịch Hội đồng thẩm định giá, trong đó 3 thành viên còn lại có đủ 2 công chức có chứng chỉ để giữ đúng tỷ lệ 50% cho toàn Hội đồng là đúng theo quy định. Thành phần còn lại: Cần bố trí đại diện của bộ phận quản lý tài sản công và bộ phận tài chính - kế toán của Sở để đảm bảo đúng cơ cấu vận hành. Như vậy, Sở A được phép thành lập Hội đồng thẩm định giá gồm 04 thành viên để định giá tài sản thanh lý. Tâm Nhi – VP Sở
18:00 14/07/2026
1004
Con riêng của vợ/chồng: Pháp luật quy định quyền và nghĩa vụ như thế nào?
Gia đình Việt Nam ngày nay không còn bó hẹp trong khuôn mẫu truyền thống một vợ, một chồng, một lứa con chung. Ngày càng nhiều người sau ly hôn hoặc góa bụa tìm đến hạnh phúc mới, mang theo con riêng về sống chung dưới một mái nhà với cha dượng, mẹ kế. Trong hành trình ấy, không ít câu hỏi được đặt ra: cha dượng, mẹ kế có bắt buộc phải nuôi dưỡng con riêng của vợ, chồng mình hay không? Con riêng có được thừa kế tài sản của cha dượng, mẹ kế sau này? Bài viết dưới đây sẽ giúp bạn đọc hiểu rõ quyền và nghĩa vụ giữa các bên theo quy định pháp luật hiện hành. Cha dượng, mẹ kế và con riêng: Quyền, nghĩa vụ phát sinh khi nào? Khác với quan hệ cha mẹ – con đẻ, quan hệ giữa cha dượng, mẹ kế với con riêng của vợ hoặc chồng không đương nhiên phát sinh khi cha mẹ tái hôn, mà chỉ phát sinh quyền và nghĩa vụ pháp lý khi hai bên cùng sống chung với nhau. Đây là điểm mà người dân cần đặc biệt lưu ý để tránh hiểu sai về pháp luật. Điều 79 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định cụ thể: cha dượng, mẹ kế có quyền và nghĩa vụ trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con riêng của bên kia cùng sống chung với mình theo quy định tại các Điều 69, 71 và 72 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; ngược lại, con riêng có quyền và nghĩa vụ chăm sóc, phụng dưỡng cha dượng, mẹ kế cùng sống chung với mình theo quy định tại Điều 70 và Điều 71 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Một số nội dung pháp lý cần lưu ý: - Về nghĩa vụ cấp dưỡng: cha dượng, mẹ kế không đương nhiên có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con riêng như cha, mẹ đẻ. Việc hỗ trợ tài chính, nếu có, mang tính tự nguyện hoặc theo thỏa thuận giữa các bên, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. - Về thời điểm chấm dứt: khi cha, mẹ ly hôn hoặc không còn sống chung, quan hệ cùng sống chung giữa cha dượng, mẹ kế với con riêng chấm dứt, kéo theo nghĩa vụ trông nom, nuôi dưỡng theo Điều 79 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cũng chấm dứt, trừ khi các bên có thỏa thuận khác. - Về thừa kế: theo Điều 654 Bộ luật Dân sự 2015, con riêng và bố dượng, mẹ kế chỉ được thừa kế di sản của nhau (kể cả thừa kế thế vị) nếu có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con trên thực tế. Đây là quan hệ thừa kế có điều kiện, khác với thừa kế đương nhiên giữa cha mẹ đẻ và con đẻ. Ngoài ra, con riêng vẫn có thể được hưởng di sản nếu cha dượng, mẹ kế lập di chúc để lại tài sản cho mình. - Về cấm kết hôn: pháp luật nghiêm cấm việc kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa người đã từng là cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng (điểm d khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình 2014). Hành vi vi phạm có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định. Thu Yến – Phòng PBGDPL
14:07 13/07/2026
964
Trẻ sinh ra ở nước ngoài, nhập cảnh bằng đường tiểu ngạch vào Việt Nam có được làm giấy khai sinh không?
Chị Nguyễn Thị H (người Việt Nam cư trú tại tỉnh Lâm Đồng) sang nước ngoài kết hôn bằng đường tiểu ngạch, không có giấy tờ hợp pháp. Năm 2013, chị H sinh một bé gái tại nước ngoài nhưng không được gia đình chồng thừa nhận. Do đó, chị H đã đưa con về Việt Nam sinh sống bằng đường tiểu ngạch (không qua cửa khẩu). Khi về nước, cháu bé hoàn toàn không có giấy tờ tùy thân và chưa từng được đăng ký khai sinh tại bất kỳ cơ quan có thẩm quyền nào ở nước ngoài. Nay chị H muốn làm thủ tục đăng ký khai sinh cho con tại Việt Nam. CÂU HỎI ĐẶT RA Câu 1. Chị Nguyễn Thị H có thể đăng ký khai sinh cho con tại Việt Nam được không? Thủ tục xác minh được tiến hành như thế nào? Chị Nguyễn Thị H hoàn toàn được phép đăng ký khai sinh cho con tại Việt Nam. Theo quy định tại Điều 29 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP và Điều 7 Thông tư số 04/2020/TT-BTP, trẻ em sinh ra ở nước ngoài, có mẹ là công dân Việt Nam, về nước cư trú và chưa được đăng ký khai sinh thì thuộc diện được giải quyết đăng ký khai sinh trong nước. Do trường hợp này nhập cảnh tiểu ngạch và không có giấy tờ, thủ tục sẽ được thực hiện như sau: Thủ tục xác minh: UBND cấp xã sẽ phối hợp với cơ quan Công an cùng cấp tiến hành kiểm tra, xác minh rõ: nhân thân của trẻ, thời gian về nước, người đi cùng, quá trình cư trú liên tục tại địa phương từ khi về nước đến nay. Cam đoan của người mẹ: Sau khi xác minh nội dung chị H cung cấp là đúng (trẻ chưa từng có giấy tờ, chưa được đăng ký khai sinh hay xác định quốc tịch ở nước ngoài), UBND cấp xã sẽ hướng dẫn chị H lập văn bản cam đoan để hoàn thiện hồ sơ. Cơ quan giải quyết: UBND cấp xã nơi chị H và cháu bé đang cư trú sinh sống. Câu 2: Thành phần hồ sơ đăng ký khai sinh bao gồm những gì? Do cháu bé không có giấy tờ từ nước ngoài mang về, chị H cần chuẩn bị và phối hợp hoàn thiện bộ hồ sơ gồm: Tờ khai đăng ký khai sinh (theo mẫu quy định). Văn bản cam đoan của chị H về các nội dung: Trẻ sinh ra tại nước ngoài; chưa từng được đăng ký khai sinh hay cấp giấy tờ tùy thân ở bất kỳ đâu; lý do nhập cảnh bằng đường tiểu ngạch và cam đoan về quốc tịch của trẻ. Giấy tờ của người mẹ: Căn cước công dân hoặc Hộ chiếu còn giá trị; giấy tờ chứng minh nơi cư trú tại địa phương. Biên bản kiểm tra, xác minh về nhân thân, quá trình nhập cảnh và cư trú của trẻ (do cơ quan Công an có thẩm quyền phối hợp lập và xác nhận). Lời khuyên: Chị H cần chủ động phối hợp và cung cấp thông tin hoàn toàn trung thực, chính xác cho cơ quan Công an khi tiến hành xác minh (về thời gian, cửa ngõ nhập cảnh, quá trình sinh sống tại địa phương...). Ngay sau khi có kết quả xác minh từ phía Công an, UBND cấp xã sẽ tiến hành giải quyết đăng ký và cấp Giấy khai sinh cho cháu bé. Bích Trâm, Phòng HCTP
11:28 23/06/2026
472
Có quyền thay đổi họ, tên và chữ đệm hay không?
Tên gọi không chỉ là dấu hiệu nhận biết của mỗi cá nhân mà còn gắn liền với danh dự, nhân phẩm và các quyền nhân thân được pháp luật bảo vệ. Trong thực tế, có những trường hợp tên gọi không phù hợp với giới tính, ngoại hình hoặc hoàn cảnh sống, gây ra nhiều khó khăn trong học tập, lao động và giao tiếp xã hội.
08:18 16/06/2026
1234
Cách xử lý đối với trường hợp nhận con nuôi thực tế nhưng không khai báo với chính quyền địa phương
Hỏi đáp pháp luật: Cách xử lý đối với trường hợp nhận con nuôi thực tế nhưng không khai báo với chính quyền địa phương Sáu năm trước, vợ chồng ông Minh và bà Thu, nhận nuôi một bé gái bị bỏ rơi tại bệnh viện và đặt tên là An. Vì thiếu hiểu biết pháp luật lại sợ người đời dị nghị, ông bà lặng lẽ nuôi nấng An như con ruột mà không hề làm thủ tục đăng ký khai sinh hay khai báo với chính quyền. Đến khi An tròn 6 tuổi, chuẩn bị đi học, nhà trường yêu cầu bản sao Giấy khai sinh và Mã số định danh để hoàn thiện hồ sơ nhập học. Lúc này, hai vợ chồng mới biết sự thiếu hiểu biết năm xưa sẽ gây khó khăn cho con mình. MỘT SỐ CÂU HỎI ĐẶT RA 1. Câu hỏi: Tự ý đưa trẻ bị bỏ rơi tại bệnh viện về nuôi mà không đăng ký với cơ quan có thẩm quyền, quan hệ nuôi con nuôi của vợ chồng ông Minh có được pháp luật công nhận không ? Trả lời: Không. Việc tự ý nuôi dưỡng này chưa làm phát sinh quan hệ cha mẹ và con nuôi hợp pháp về mặt pháp lý. Căn cứ pháp lý: Theo Khoản 1 Điều 6 và Điều 22 Luật Nuôi con nuôi năm 2010, quan hệ cha mẹ và con hợp pháp chỉ chính thức phát sinh kể từ ngày giao nhận con nuôi và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền (UBND cấp xã) trao Giấy chứng nhận nuôi con nuôi. Áp dụng thực tế: Mặc dù vợ chồng ông Minh có công chăm sóc, yêu thương bé An suốt 6 năm như con ruột, nhưng vì xuất phát từ sự thiếu hiểu biết pháp luật, ông bà đã bỏ qua thủ tục khai báo trẻ bị bỏ rơi và thủ tục đăng ký nuôi con nuôi tại Ủy ban nhân dân cấp xã. Do đó, sự việc này chưa làm phát sinh quyền, nghĩa vụ pháp lý của cha mẹ nuôi và con nuôi theo quy định. 2. Câu hỏi: Trẻ bị mẹ ruột bỏ lại bệnh viện, không có Giấy chứng sinh thì vợ chồng ông Minh phải làm Giấy khai sinh cho bé An thế nào? Trả lời: Vì bé An thuộc diện trẻ bị bỏ rơi, đã được nuôi dưỡng thực tế 6 năm nhưng chưa được khai sinh và không có Giấy chứng sinh, thủ tục đăng ký khai sinh sẽ được thực hiện theo quy định đối với trẻ bị bỏ rơi tại Điều 14 Nghị định 123/2015/NĐ-CP và hướng dẫn tại Thông tư 04/2020/TT-BTP với các bước cụ thể như sau: Bước 1: Khai báo và xác nhận tình trạng trẻ bị bỏ rơi: Vợ chồng ông Minh phải đến UBND cấp xã nơi cư trú thực tế của bé An để khai báo về việc đang nuôi dưỡng trẻ bị bỏ rơi. UBND cấp xã sẽ phối hợp với Công an cấp xã tiến hành kiểm tra, xác minh và lập Biên bản xác nhận việc trẻ bị bỏ rơi (biên bản này ghi nhận rõ thời điểm phát hiện, thời gian và tình trạng nuôi dưỡng thực tế suốt 6 năm qua). Bước 2: Niêm yết công khai và xác minh thông tin: UBND cấp xã tiến hành niêm yết công khai tại trụ sở về việc trẻ bị bỏ rơi trong thời hạn 07 ngày liên tục. Đồng thời, cơ quan Công an sẽ tiến hành xác minh để đảm bảo đứa trẻ không phải là nạn nhân của các vụ chiếm đoạt, bắt cóc hoặc mua bán người. Bước 3: Thực hiện đăng ký khai sinh: Sau khi hết thời hạn niêm yết và có kết quả xác minh từ cơ quan Công an, công chức Văn phòng UBND xã phụ trách công tác tư pháp - hộ tịch sẽ tiến hành đăng ký khai sinh cho bé An. Về phần khai Cha, Mẹ: Căn cứ theo Khoản 2 Điều 15 Nghị định 123/2015/NĐ-CP, vì chưa xác định được cha, mẹ ruột, phần thông tin này trên Giấy khai sinh của An tạm thời để trống. Họ, quê quán, dân tộc của An sẽ được xác định theo thông tin của người đang tạm thời nuôi dưỡng (ông Minh hoặc bà Thu) theo yêu cầu của ông bà. Quốc tịch của bé được xác định là quốc tịch Việt Nam. 3. Câu hỏi: Làm sao để Giấy khai sinh của bé An có tên của ông Minh và bà Thu với tư cách là Cha, Mẹ? Trả lời: Để chính thức đứng tên là Cha và Mẹ nuôi trên Giấy khai sinh của bé An, thì vợ chồng ông Minh phải thực hiện các trình tự thủ tục sau: Bước 1: Đăng ký nhận nuôi con nuôi Sau khi bé An đã được cấp Giấy khai sinh (với phần ghi về cha mẹ còn để trống), vợ chồng ông Minh phải nộp hồ sơ xin nhận con nuôi tại UBND cấp xã nơi cư trú. Căn cứ Điều 9 và Điều 22 Luật Nuôi con nuôi năm 2010, sau khi kiểm tra đủ điều kiện, UBND cấp xã sẽ cấp Giấy chứng nhận nuôi con nuôi cho gia đình. Vì bé An mới 6 tuổi (dưới 9 tuổi) nên việc nhận nuôi hoàn toàn do vợ chồng ông Minh tự quyết định mà không cần văn bản đồng ý của trẻ (quy định tại Khoản 1 Điều 21 Luật Nuôi con nuôi chỉ bắt buộc áp dụng đối với trẻ từ đủ 9 tuổi trở lên). Bước 2: Ghi thông tin cha mẹ nuôi vào Giấy khai sinh Căn cứ pháp lý: Theo Khoản 3 Điều 14 Nghị định 123/2015/NĐ-CP, trường hợp trẻ chưa xác định được cha, mẹ mà sau đó được nhận làm con nuôi thì cha mẹ nuôi có quyền yêu cầu cơ quan đăng ký hộ tịch ghi tên mình vào phần khai về cha, mẹ trong Giấy khai sinh và Sổ đăng ký khai sinh của trẻ. BÀI HỌC RÚT RA: Đối với người dân: Khi phát hiện trẻ bị bỏ rơi hoặc có nguyện vọng nhận con nuôi, cần lập tức đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú để khai báo, phối hợp lập biên bản và thực hiện thủ tục đăng ký khai sinh, đăng ký nuôi con nuôi theo đúng trình tự pháp luật. Khẩu hiệu hành động: "Chung tay bảo vệ quyền trẻ em – Đăng ký hộ tịch kịp thời là trách nhiệm, là tình yêu thương của cha mẹ." Châu Vân – phòng HCTP
09:57 03/06/2026
1448
Trang
12345
Liên kết
Thống kê truy cập
  • Đang online: 118
  • Hôm nay: 3948
  • Trong tuần: 30290
  • Trong tháng: 116812
  • Tổng truy cập: 630826