Trẻ sinh ra ở nước ngoài, nhập cảnh bằng đường tiểu ngạch vào Việt Nam có được làm giấy khai sinh không?

11:28 23/06/2026

Chị Nguyễn Thị H (người Việt Nam cư trú tại tỉnh Lâm Đồng) sang nước ngoài kết hôn bằng đường tiểu ngạch, không có giấy tờ hợp pháp. Năm 2013, chị H sinh một bé gái tại nước ngoài nhưng không được gia đình chồng thừa nhận. Do đó, chị H đã đưa con về Việt Nam sinh sống bằng đường tiểu ngạch (không qua cửa khẩu). Khi về nước, cháu bé hoàn toàn không có giấy tờ tùy thân và chưa từng được đăng ký khai sinh tại bất kỳ cơ quan có thẩm quyền nào ở nước ngoài. Nay chị H muốn làm thủ tục đăng ký khai sinh cho con tại Việt Nam. CÂU HỎI ĐẶT RA Câu 1. Chị Nguyễn Thị H có thể đăng ký khai sinh cho con tại Việt Nam được không? Thủ tục xác minh được tiến hành như thế nào? Chị Nguyễn Thị H hoàn toàn được phép đăng ký khai sinh cho con tại Việt Nam. Theo quy định tại Điều 29 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP và Điều 7 Thông tư số 04/2020/TT-BTP, trẻ em sinh ra ở nước ngoài, có mẹ là công dân Việt Nam, về nước cư trú và chưa được đăng ký khai sinh thì thuộc diện được giải quyết đăng ký khai sinh trong nước. Do trường hợp này nhập cảnh tiểu ngạch và không có giấy tờ, thủ tục sẽ được thực hiện như sau: Thủ tục xác minh: UBND cấp xã sẽ phối hợp với cơ quan Công an cùng cấp tiến hành kiểm tra, xác minh rõ: nhân thân của trẻ, thời gian về nước, người đi cùng, quá trình cư trú liên tục tại địa phương từ khi về nước đến nay. Cam đoan của người mẹ: Sau khi xác minh nội dung chị H cung cấp là đúng (trẻ chưa từng có giấy tờ, chưa được đăng ký khai sinh hay xác định quốc tịch ở nước ngoài), UBND cấp xã sẽ hướng dẫn chị H lập văn bản cam đoan để hoàn thiện hồ sơ. Cơ quan giải quyết: UBND cấp xã nơi chị H và cháu bé đang cư trú sinh sống. Câu 2: Thành phần hồ sơ đăng ký khai sinh bao gồm những gì? Do cháu bé không có giấy tờ từ nước ngoài mang về, chị H cần chuẩn bị và phối hợp hoàn thiện bộ hồ sơ gồm: Tờ khai đăng ký khai sinh (theo mẫu quy định). Văn bản cam đoan của chị H về các nội dung: Trẻ sinh ra tại nước ngoài; chưa từng được đăng ký khai sinh hay cấp giấy tờ tùy thân ở bất kỳ đâu; lý do nhập cảnh bằng đường tiểu ngạch và cam đoan về quốc tịch của trẻ. Giấy tờ của người mẹ: Căn cước công dân hoặc Hộ chiếu còn giá trị; giấy tờ chứng minh nơi cư trú tại địa phương. Biên bản kiểm tra, xác minh về nhân thân, quá trình nhập cảnh và cư trú của trẻ (do cơ quan Công an có thẩm quyền phối hợp lập và xác nhận). Lời khuyên: Chị H cần chủ động phối hợp và cung cấp thông tin hoàn toàn trung thực, chính xác cho cơ quan Công an khi tiến hành xác minh (về thời gian, cửa ngõ nhập cảnh, quá trình sinh sống tại địa phương...). Ngay sau khi có kết quả xác minh từ phía Công an, UBND cấp xã sẽ tiến hành giải quyết đăng ký và cấp Giấy khai sinh cho cháu bé. Bích Trâm, Phòng HCTP

Hỏi đáp: Vai trò của người Phụ nữ trong gia đình?
Nga là hình mẫu phụ nữ truyền thống điển hình: hiền hậu, tần tảo và luôn coi sự nhẫn nhịn là đức hạnh cao quý nhất. Trong suốt 15 năm hôn nhân, cô chấp nhận lùi lại phía sau để làm hậu phương lo việc nội trợ và nuôi dạy, đưa đón 2 đứa con đi học, để chồng mình là ông Hòa với vai trò "trụ cột" duy nhất, hàng tháng chi tiêu trong gia đình Nga được chồng đưa một khoản để chi tiêu. Ngày qua ngày, Nga dần trở thành một "cái bóng" đúng nghĩa, không biết được số tiền làm ăn của gia đình? Không biết chồng mình có bao nhiêu tiền đầu tư vào việc gì? Không có đòn roi, không có thương tích, nhưng sự áp đặt và cô lập kinh tế của ông Hòa như một sợi dây thừng vô hình siết chặt lấy sự tự do của cô. Mỗi khi Nga định lên tiếng, ông chỉ ném lại một câu nói lạnh lùng: "Cô không làm ra tiền, cô không có quyền định đoạt. Việc của cô là phục vụ cái nhà này cho tốt!" 1. Đỉnh điểm của sự bạo lực tinh thần: Sóng gió thực sự ập đến khi ông Hòa tự ý bán đi mảnh đất hồi môn của mẹ đẻ Nga để lại – kỷ vật duy nhất cô còn giữ về gia đình mình. Dù mảnh đất đã được nhập vào tài sản chung sau khi cưới, nhưng ông Hòa coi đó là tài sản của riêng mình vì "ông đứng tên trên giấy tờ". Khi Nga bàng hoàng hỏi lý do, ông Hòa không những không thấy lỗi mà còn quăng cái nhìn sắc lạnh: "Lo cơm nước cho tử tế đi! Đất tên tôi, tiền tôi làm ra, cô không đóng góp một đồng thì tư cách gì mà ý kiến? Nếu còn 'lắm lời', tôi sẽ cho cô ra khỏi nhà với hai bàn tay trắng!" Cảm giác bị gạt ra khỏi chính gia đình mình khiến Nga rơi vào trầm cảm. Cô từng tin rằng "đạo tòng phu" là phải phục tùng tuyệt đối và pháp luật sẽ chẳng bao giờ can thiệp vào chuyện "đóng cửa bảo nhau". 2. Sự thức tỉnh từ những điều luật "biết nói" Bước ngoặt xảy ra khi Nga tham gia buổi sinh hoạt của Câu lạc bộ Phụ nữ và Pháp luật. Tại đây, cô bàng hoàng nhận ra mình không hề "vô giá trị" như lời chồng nói. Những điều luật vốn khô khan bỗng trở thành lá chắn vững chắc: Quyền bình đẳng tuyệt đối: Theo Điều 17 Luật Hôn nhân và Gia đình, vợ chồng có quyền ngang nhau về mọi mặt, từ việc quyết định nơi cư trú đến việc bàn bạc các kế hoạch chung. Giá trị của "Lao động không lương": Pháp luật quy định công việc nội trợ được tính là lao động có thu nhập tương đương với người đi làm. Nga có quyền lợi ngang bằng với chồng đối với mọi tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân. Bạo lực không chỉ là đòn roi: Việc xúc phạm, kiểm soát hành vi và cô lập kinh tế chính là hành vi Bạo lực gia đình theo quy định pháp luật hiện hành. 3. Tìm lại tiếng nói: Cuộc chiến của lý trí Thay vì chọn cách ly hôn trong uất ức, Nga chọn cách dùng pháp luật để "tái cấu trúc" lại sự tôn trọng. Lần đầu tiên trong đời, cô đặt lên bàn làm việc của chồng một xấp tài liệu pháp lý và tờ đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch bán đất vô hiệu. Trước sự kiên quyết của vợ, ông Hòa từ ngỡ ngàng chuyển sang e dè. Ông nhận ra sự im lặng của Nga bấy lâu không phải là nhu nhược, mà là sự nhẫn nhịn và đã chạm tới giới hạn cuối cùng. 4. Phá bỏ xiềng xích của "Lệ làng" Không chịu thua dễ dàng, ông Hòa triệu tập một buổi họp họ, mượn lời các bậc trưởng bối để gây áp lực bằng tư duy "đạo tòng phu". Người chú họ gay gắt: "Chồng làm kinh tế, vợ lo bếp núc. Cháu làm thế này là làm nhục mặt chồng, phá nát gia can!" Sự phản hồi đanh thép của Nga: Cô không cúi đầu, giọng nói bình thản: "Thưa chú, Luật Bình đẳng giới năm 2006 và Luật Hôn nhân & gia đình quy định vợ chồng có quyền ngang nhau trong mọi giao dịch dân sự. Việc cháu lên tiếng không phải để làm nhục ai, mà là để bảo vệ tài sản chung của gia đình và tương lai của các con theo đúng quy định của pháp luật." Căn phòng im phăng phắc. Những định kiến xưa cũ bỗng trở nên yếu ớt trước sức nặng của "Pháp luật". 5. Xác lập một trật tự mới Sức ép pháp lý khiến phía người mua đất hốt hoảng vì sợ giao dịch bị vô hiệu, họ buộc ông Hòa phải đối thoại với Nga. Kết quả, Nga không chỉ giữ lại được tài sản mà còn thiết lập một bản "Hiến pháp" mới cho gia đình: Minh bạch tài chính: Thỏa thuận thống nhất với chồng, Nga quay lại có một công việc cho mình. Hai vợ chồng lập tài khoản chung để chi trả sinh hoạt phí dưới sự giám sát của cả hai. Chia sẻ quyền quyết định: Mọi khoản chi tiêu lớn hoặc kế hoạch dài hạn phải được thảo luận và có sự đồng thuận của cả vợ chồng. MỘT SỐ CÂU HỎI ĐẶT RA Câu 1: Nguyên nhân chính nào khiến Nga từ một người phụ nữ nhẫn nhịn quyết định đứng lên phản kháng? Trả lời: Bước ngoặt lớn nhất là khi ông Hòa tự ý bán đi mảnh đất hồi môn của mẹ đẻ Nga – kỷ vật duy nhất của gia đình cô, đây là tài sản riêng của cô, vì tin tưởng chồng nên cô đã nhập vào tài sản chung và để chồng đứng tên trên giấy tờ. Sự việc này không chỉ là tổn thất về vật chất mà còn là sự xúc phạm nghiêm trọng đến tình cảm và quyền sở hữu của Nga đối với tài sản gia đình, khiến cô nhận ra sự nhẫn nhịn bấy lâu không mang lại tôn trọng mà chỉ mang lại sự xem thường vai trò của mình trong gia đình. Câu 2: Quan niệm sai lầm của ông Hòa về “quyền lực" trong gia đình là gì? Trả lời: Ông Hòa cho rằng ai làm ra tiền thì người đó có quyền định đoạt tất cả. Ông đánh đồng việc đứng tên trên giấy tờ tài sản chung với quyền sở hữu cá nhân và xem thường công việc nội trợ của vợ, không tôn trọng công sức đóng góp, hy sinh cho gia đình của người vợ. Câu 3: Theo câu chuyện, pháp luật Việt Nam quy định như thế nào về giá trị của công việc nội trợ? Trả lời: Theo quy định tại điểm b, Khoản 2, Điều 59 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, công việc nội trợ và duy trì đời sống gia đình được tính là lao động có thu nhập. “…b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;…”. Câu 4: Nga đã dùng những "vũ khí" pháp lý nào để đối đáp lại áp lực từ dòng họ? Trả lời: Nga đã sử dụng Luật Bình đẳng giới năm 2006 và Luật Hôn nhân và Gia đình. Cô khẳng định vợ chồng có quyền ngang nhau trong mọi giao dịch dân sự và việc cô bảo vệ tài sản là đúng quy định pháp luật để lo cho tương lai các con, thay vì chấp nhận định kiến "đạo tòng phu" lạc hậu. Câu 5: "Trật tự mới" trong gia đình Nga sau cuộc đấu tranh tự bảo vệ quyền lợi của mình bao gồm những thay đổi cụ thể nào? Trả lời: Trật tự mới dựa trên sự minh bạch và đồng thuận: Về kinh tế: Nga đi làm lại, hai vợ chồng có tài khoản chung và cùng giám sát chi tiêu. Về quyền lực: Mọi khoản chi tiêu lớn và kế hoạch dài hạn phải được thảo luận và có sự đồng thuận của cả hai bên. Câu 6: Thông điệp sâu sắc nhất mà câu chuyện muốn gửi gắm đến phụ nữ hiện đại là gì? Trả lời: Hạnh phúc thực sự không đến từ sự cam chịu hay sự tĩnh lặng nhu nhược. Sự tôn trọng trong hôn nhân chỉ bền vững khi được xây dựng trên nền tảng hiểu biết pháp luật và sự tự chủ. Phụ nữ cần nắm vững kiến thức pháp lý như một "lá chắn" để bảo vệ quyền lợi và nhân phẩm của chính mình. Lời kết: Câu chuyện của Nga là minh chứng cho việc "Pháp luật không ngủ quên trong những căn bếp". Khi người phụ nữ có kiến thức, họ không chỉ bảo vệ được tài sản mà còn giành lại được danh dự và sự bình đẳng vốn có. GÓC NHÌN PHÁP LÝ: LÁ CHẮN CHO PHỤ NỮ Qua câu chuyện của Nga, mỗi phụ nữ cần nắm vững những quy định pháp lý sau để bảo vệ vị thế của mình: Nội dung Quy định pháp luật bảo vệ Quyền quyết định Vợ và chồng có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản chung. Giá trị lao động Công việc nội trợ được coi là lao động có thu nhập, giúp phụ nữ có vị thế ngang hàng khi chia tài sản. Chống phân biệt đối xử Mọi hành vi áp đặt, bắt buộc thành viên gia đình phải làm theo ý mình một cách vô lý là vi phạm pháp luật về bình đẳng giới. * Bảng tóm tắt các quy định pháp luật trong chuyện Tình huống trong truyện Cơ sở pháp lý bảo vệ Ông Hòa tự ý bán đất chung Điều 35 Luật HN&GĐ: Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận. Ông Hòa chê Nga không làm ra tiền Điều 59 Luật HN&GĐ: Công việc nội trợ được coi là lao động có thu nhập. Ông Hòa dùng lời lẽ xúc phạm, cô lập Luật Phòng, chống bạo lực gia đình: Hành vi xúc phạm danh dự và cô lập kinh tế là bạo lực. THÔNG ĐIỆP Hạnh phúc không được xây dựng trên sự hy sinh, nhẫn nhịn, cam chịu, mà phải dựa trên sự tôn trọng. Và sự tôn trọng chỉ thực sự bền vững khi nó được bảo vệ bằng sự hiểu biết pháp luật. Đừng để tiếng nói của bạn bị dập tắt trong sự tĩnh lặng. Hãy để pháp luật trở thành ngôn từ mạnh mẽ nhất bảo vệ cuộc đời bạn! Châu Vân – phòng HCTP
15:06 14/05/2026
256
VIỆC CHUNG SỐNG NHƯ VỢ CHỒNG TRƯỚC NGÀY 03/01/1987: Có phải ly hôn khi kết hôn với người khác hay không?
Trong thực tế, nhiều trường hợp nam, nữ đã chung sống với nhau như vợ chồng từ trước năm 1987 nhưng không thực hiện đăng ký kết hôn. Khi một trong hai bên có nhu cầu kết hôn với người khác, không ít người băn khoăn liệu có phải thực hiện thủ tục ly hôn hay không?. Trường hợp của anh Triệu Văn Bằng là một ví dụ điển hình. Anh Bằng cùng chị Bùi Thanh Mai đến UBND xã Đạ Huoai 2 (tỉnh Lâm Đồng) để làm thủ tục đăng ký kết hôn. Qua xác minh tình trạng hôn nhân, cán bộ tư pháp phát hiện anh Bằng đã chung sống như vợ chồng với chị Giàng Thị Mị từ năm 1985 và có 03 người con chung, tuy nhiên chưa từng đăng ký kết hôn. Hình ảnh người dân làm TTHC tại xã Đạ Huoai 2 - Hỏi: Anh Triệu Văn Bằng chung sống như vợ chồng với chị Giàng Thị Mị trước ngày 03/01/1987 nhưng không đăng ký kết hôn thì có được công nhận là vợ chồng không? - Trả lời: Có. Theo điểm 2 Điều 44 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định: “Đối với trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng trước ngày 03 tháng 01 năm 1987 mà chưa đăng ký kết hôn thì được khuyến khích và tạo điều kiện để đăng ký kết hôn. Quan hệ hôn nhân được công nhận kể từ ngày các bên xác lập quan hệ chung sống với nhau như vợ chồng”. - Hỏi: Nếu anh Bằng muốn kết hôn với người khác thì có cần làm thủ tục ly hôn không? - Trả lời: Cần phải làm thủ tục ly hôn. Pháp luật công nhận quan hệ vợ chồng đối với trường hợp chung sống trước ngày 03/01/1987, dù không đăng ký kết hôn. Do đó, để kết hôn với người khác, người đang trong quan hệ này bắt buộc phải thực hiện thủ tục ly hôn theo quy định (theo điểm 1 Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 03/1/2001 của Bộ Tư pháp-Tòa án nhân dân tối cao-Viện Kiểm Sát nhân dân tối cao). - Hỏi: Nếu không ly hôn mà vẫn đăng ký kết hôn với người khác thì có vi phạm pháp luật không? Trường hợp chung sống với nhau sau ngày 03/1/1987 không đăng ký kết hôn thì xử lý như thế nào? - Trả lời: Nếu không ly hôn mà vẫn đăng ký kết hôn với người khác thì vi phạm chế độ một vợ một chồng. Đối với các trường hợp chung sống như vợ chồng sau thời điểm này (03/1/1987) mà không đăng ký kết hôn, thì pháp luật không công nhận là vợ chồng (quy định tại điểm 2 Thông tư liên tịch 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP). Nếu có yêu cầu ly hôn, Tòa án sẽ tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng, còn các vấn đề về con chung và tài sản sẽ giải quyết theo quy định pháp luật dân sự. Qua vụ việc trên cho thấy, việc nắm rõ các quy định pháp luật về hôn nhân và gia đình, đặc biệt là các quy định chuyển tiếp đối với quan hệ chung sống trước năm 1987, là hết sức cần thiết. Điều này không chỉ giúp người dân bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của mình trong quan hệ hôn nhân, tài sản và nuôi con mà còn tránh được những vướng mắc, rủi ro pháp lý khi xác lập quan hệ hôn nhân mới. Bài học rút ra: Đối với trường hợp nam, nữ chung sống như vợ chồng trước ngày 03/01/1987, dù không đăng ký kết hôn nhưng vẫn được pháp luật công nhận là quan hệ hôn nhân hợp pháp (hôn nhân thực tế). Vì vậy, khi muốn chấm dứt quan hệ để kết hôn với người khác, bắt buộc phải thực hiện thủ tục ly hôn theo quy định. Đăng ký kết hôn không chỉ là thủ tục hành chính mà là cơ sở pháp lý quan trọng để Nhà nước công nhận và bảo vệ quan hệ hôn nhân. Trong mọi trường hợp, khi xác lập hoặc chấm dứt quan hệ hôn nhân, người dân cần tuân thủ đúng trình tự, thủ tục theo quy định. Cán bộ cơ sở cần tăng cường tuyên truyền, giải thích rõ ràng, dễ hiểu các quy định pháp luật, nhất là những quy định chuyển tiếp liên quan đến giai đoạn trước năm 1987, để người dân nắm bắt và thực hiện đúng. Kim Oanh, Phòng HCTP
09:53 28/04/2026
1974
Công dân việt nam có được mang hai quốc tịch không?
Tám năm trước, Tôi cùng chồng sang Pháp định cư khi con trai mới 6 tháng tuổi. Do nghĩ sẽ ở lại định cư tại Pháp nên tôi đã làm thủ tục thôi quốc tịch Việt Nam cho cả hai mẹ con. Tuy nhiên, sau biến động kinh doanh cuộc sống tại Pháp gặp nhiều khó khăn, vợ chồng tôi quyết định đưa con về Việt Nam lập nghiệp làm sao để con được học trường công, hưởng quyền lợi như trẻ em trong nước nhưng vẫn giữ được quốc tịch Pháp. Câu hỏi 1: Tôi Nghe nói Việt Nam chỉ cho phép một quốc tịch, điều này có đúng không? Trả lời: Theo Điều 4 Luật Quốc tịch Việt Nam quy định: “Về nguyên tắc, Nhà nước Việt Nam công nhận công dân Việt Nam có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam”. Tuy nhiên, pháp luật vẫn có những ngoại lệ cho phép công dân mang hai quốc tịch trong các trường hợp sau đây: “Trẻ em có cha mẹ thuộc hai quốc tịch khác nhau. (Điều 16) Người xin nhập hoặc trở lại quốc tịch Việt Nam được Chủ tịch nước cho phép giữ quốc tịch nước ngoài. (Khoản 3, Điều 19 và Khoản 5, Điều 23) Trẻ em thay đổi quốc tịch theo cha mẹ nhưng có thỏa thuận giữ quốc tịch cũ.” (Điều 35) Câu hỏi 2: "Nếu tôi xin trở lại quốc tịch Việt Nam, con trai tôi có được nhập tịch theo tôi không?"Trả lời: Chắc chắn được. Theo khoản 1 Điều 35 Luật Quốc tịch Việt Nam quy định: “1. Khi có sự thay đổi về quốc tịch do nhập, trở lại hoặc thôi quốc tịch Việt Nam của cha mẹ thì quốc tịch của con chưa thành niên sinh sống cùng với cha mẹ cũng được thay đổi theo quốc tịch của họ.” Câu hỏi 3: "Làm sao để con trai tôi vừa có quốc tịch Việt Nam, vừa giữ được quốc tịch Pháp?" Trả lời: Đây là điểm mấu chốt để đạt được "song tịch" hợp pháp cho cháu bé. Căn cứ Khoản 2, Điều 35 Luật Quốc tịch Việt Nam: “Khi chị Phương trở lại quốc tịch Việt Nam, cháu bé sẽ có quốc tịch Việt Nam theo mẹ. Để cháu giữ được quốc tịch Pháp, vợ chồng chị Phương cần lập một Văn bản thỏa thuận đồng ý cho con có quốc tịch Việt Nam nhưng đồng thời xác nhận nguyện vọng giữ quốc tịch Pháp. Nếu không có văn bản thỏa thuận này, về mặt nguyên tắc pháp lý, cháu sẽ mặc nhiên chỉ mang quốc tịch Việt Nam theo mẹ”. Câu hỏi 4: "Riêng đối với tôi, khi trở lại quốc tịch Việt Nam có bắt buộc phải bỏ quốc tịch Pháp không?" Trả lời: Theo Điều 23 Luật Quốc tịch Việt Nam quy định: “Người xin trở lại quốc tịch Việt Nam về nguyên tắc phải thôi quốc tịch nước ngoài, trừ trường hợp đặc biệt được Chủ tịch nước cho phép giữ quốc tịch nước ngoài. Để được giữ quốc tịch Pháp khi trở lại quốc tịch Việt Nam, ông/bà cần đáp ứng đồng thời các điều kiện sau: Có cha đẻ, mẹ đẻ, vợ, chồng hoặc con đẻ là công dân Việt Nam. Việc giữ quốc tịch Pháp phải phù hợp với pháp luật của Pháp (hiện tại Pháp cho phép đa quốc tịch). Việc giữ hai quốc tịch không gây phương hại đến an ninh, lợi ích quốc gia của Việt Nam. Phải đang cư trú tại Việt Nam (theo quy định tại Nghị định 16/2020/NĐ-CP).” Châu Vân, HCTP
10:08 27/03/2026
4157
Quyền được thăm nom, chăm sóc con sau ly hôn
Hỏi: Tôi và chồng cũ đã ly hôn theo bản án của Tòa án, trong đó giao con cho chồng cũ trực tiếp nuôi dưỡng, tôi có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con đến khi trưởng thành. Sau ly hôn, tôi đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định. Tuy nhiên, mỗi lần tôi đến thăm con thì chồng cũ không cho gặp, thậm chí còn có lời lẽ xúc phạm tôi. Xin hỏi, theo quy định của pháp luật, chồng cũ có quyền ngăn cản tôi thăm nom, chăm sóc con sau khi ly hôn hay không? Nếu bị ngăn cản, tôi cần làm gì để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình? Đáp: Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên chỉ bị hạn chế trong những trường hợp đặc biệt và phải do Tòa án quyết định. Cụ thể, tại Điều 85 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cha, mẹ có thể bị Tòa án hạn chế quyền đối với con chưa thành niên nếu thuộc một trong các trường hợp sau: Bị kết án về các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con do lỗi cố ý hoặc có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; Phá tán tài sản của con; Có lối sống đồi trụy; Xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội. Tùy từng trường hợp cụ thể, Tòa án có thể quyết định hạn chế một hoặc một số quyền của cha, mẹ như: trông nom, chăm sóc, giáo dục con; quản lý tài sản riêng của con; đại diện theo pháp luật cho con, trong thời hạn từ 01 năm đến 05 năm, và có thể xem xét rút ngắn thời hạn này. Bên cạnh đó, tại khoản 3 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định rõ: sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, đồng thời có nghĩa vụ cấp dưỡng và tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi. Đồng thời, tại khoản 2 Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cũng khẳng định: cha, mẹ trực tiếp nuôi con và các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Như vậy, trừ trường hợp có quyết định của Tòa án hạn chế quyền thăm nom, việc chồng cũ ngăn cản bạn thăm nom, chăm sóc con là trái quy định pháp luật. Ngoài ra, theo Điều 42 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP của Chính phủ, người có hành vi ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa cha, mẹ và con có thể bị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng. Như vậy, căn cứ các quy định pháp luật nêu trên để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, bạn có thể thực hiện một số biện pháp sau: Lập vi bằng ghi nhận hành vi ngăn cản việc thăm nom, chăm sóc con làm chứng cứ; Gửi đơn phản ánh, kiến nghị kèm theo tài liệu, chứng cứ liên quan đến UBND cấp xã nơi người trực tiếp nuôi con cư trú để được xem xét, xử lý theo quy định; Trường hợp cần thiết, các chứng cứ nêu trên cũng là căn cứ để bạn khởi kiện yêu cầu Tòa án xem xét thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định của pháp luật. Ngọc Thủy – Phòng PBGDPL
10:48 10/02/2026
2068
Đăng ký khai sinh cho người không có giấy tờ tùy thân thực hiện như thế nào?
Hỏi: Người đã trưởng thành nhưng chưa từng được đăng ký khai sinh, không có giấy tờ tùy thân và không có nơi cư trú ổn định thì có được đăng ký khai sinh hay không? Đáp: Theo quy định của pháp luật về hộ tịch, mọi cá nhân đều có quyền được đăng ký khai sinh, kể cả trường hợp đã trưởng thành nhưng trước đây chưa được đăng ký và hiện không có giấy tờ tùy thân. Việc đăng ký khai sinh nhằm bảo đảm quyền nhân thân và là cơ sở để công dân thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Khoản 2 Điều 2 Luật Hộ tịch số 60/2014/QH13 quy định: “Đăng ký hộ tịch là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận hoặc ghi vào Sổ hộ tịch các sự kiện hộ tịch của cá nhân, tạo cơ sở pháp lý để Nhà nước bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, thực hiện quản lý về dân cư”. Khoản 1 Điều 8 Luật Hộ tịch số 60/2014/QH13 quy định: “Nhà nước có chính sách, biện pháp đồng bộ, tạo điều kiện để cá nhân thực hiện quyền, nghĩa vụ đăng ký hộ tịch”. Khoản 2 Điều 5 Luật Hộ tịch số 60/2014/QH13 quy định: “Mọi sự kiện hộ tịch cá nhân phải được đăng ký đầy đủ, kịp thời, trung thực, khách quan và chính xác…”. Hỏi: Trong trường hợp không có giấy tờ tùy thân, việc đăng ký khai sinh được thực hiện như thế nào? Nếu không xác định được cha, mẹ thì thông tin khai sinh được ghi nhận ra sao? Đáp: Để đảm bảo quyền lợi của người dân, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đang sinh sống sẽ phối hợp với cơ quan công an và các cơ quan liên quan để xác minh thông tin về nhân thân, nơi sinh, quá trình cư trú và mối quan hệ gia đình. Kết quả xác minh là căn cứ quan trọng để thực hiện việc đăng ký khai sinh theo quy định. Trường hợp không có căn cứ xác định cha, mẹ, cơ quan đăng ký hộ tịch sẽ áp dụng các quy định hiện hành của Bộ Tư pháp để xác định nội dung khai sinh phù hợp, bảo đảm đúng pháp luật và quyền lợi của người được đăng ký. Tại khoản 4 Điều 9 Thông tư số 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2020 của Bộ Tư pháp quy định: “Trường hợp giấy tờ của người yêu cầu đăng ký lại khai sinh không có thông tin chứng minh quan hệ cha, mẹ, con thì cơ quan đăng ký hộ tịch có văn bản đề nghị cơ quan công an có thẩm quyền xác minh. Trường hợp cơ quan công an trả lời không có thông tin thì cơ quan đăng ký hộ tịch cho người yêu cầu đăng ký lại khai sinh lập văn bản cam đoan về thông tin của cha, mẹ theo quy định tại Điều 4, Điều 5 Thông tư này và xác định nội dung khai sinh theo văn bản cam đoan”. Hỏi: Giấy khai sinh được cấp trong trường hợp này có giá trị pháp lý như thế nào? Đáp: Giấy khai sinh là giấy tờ hộ tịch gốc, có giá trị pháp lý làm cơ sở để người được đăng ký thực hiện các thủ tục tiếp theo như đăng ký cư trú, cấp căn cước công dân và các quyền, lợi ích hợp pháp khác. Khoản 1, khoản 2 Điều 6 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP quy định: “(1) Giấy khai sinh là giấy tờ hộ tịch gốc của cá nhân”, (2) Mọi hồ sơ, giấy tờ của cá nhân có nội dung về họ, chữ đệm, tên; ngày, tháng, năm sinh; giới tính, dân tộc; quốc tịch; quê quán; quan hệ cha, mẹ, con phải phù hợp với Giấy khai sinh của người đó”. Khuyến nghị: Người dân trong trường hợp chưa có giấy khai sinh cần chủ động liên hệ Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đang sinh sống để được hướng dẫn, hỗ trợ kịp thời, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định của pháp luật. Pháp luật hộ tịch luôn bảo đảm quyền được đăng ký khai sinh của mọi công dân, kể cả người đã trưởng thành, không có giấy tờ tùy thân hay nơi cư trú ổn định. Không ai bị bỏ lại ngoài “vùng bảo hộ” của pháp luật. Nhà nước và chính quyền cơ sở có trách nhiệm chủ động hỗ trợ người dân, thông qua việc phối hợp xác minh, hướng dẫn và giải quyết thủ tục hộ tịch, nhằm bảo vệ quyền nhân thân hợp pháp. Giấy khai sinh là nền tảng pháp lý quan trọng nhất của mỗi cá nhân, là cơ sở để người dân tiếp cận các quyền lợi cơ bản như cư trú, căn cước công dân, an sinh xã hội. Kim Oanh, Phòng HCTP
08:49 06/02/2026
4180
Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 – 2031
Trong thời gian tới sẽ diễn ra nhiều sự kiện trọng đại của đất nước, đặc biệt là Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 – 2031. Trong đó, bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp là quyền, nghĩa vụ của mỗi cử tri. Vậy, ai là cử tri? Khi nào đến ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 – 2031? Bỏ phiếu ở khu vực nào, bắt đầu và kết thúc vào thời điểm nào trong ngày? Sau đây là một số nội dung giải đáp: (Hình minh hoạ - thiết kế: tam nhi) * Cử tri: Cử tri là người có quyền bầu cử. Công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam, tính đến ngày bầu cử (ngày 15 tháng 3 năm 2026), đủ 18 tuổi trở lên và có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật về bầu cử đều có quyền bầu cử. * Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 – 2031: Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân quy định ngày bầu cử phải là ngày Chủ nhật và được công bố chậm nhất là 115 ngày trước ngày bầu cử. Trường hợp đặc biệt cần hoãn ngày bỏ phiếu hoặc bỏ phiếu sớm hơn ngày quy định thì Ủy ban bầu cử trình Hội đồng bầu cử quốc gia xem xét, quyết định. Từ những căn cứ trên, Quốc hội khóa XV đã ban hành Nghị quyết số 199/2025/QH15 ngày 21 tháng 5 năm 2025 quyết định Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 là Chủ nhật, ngày 15 tháng 3 năm 2026. * Thời điểm bắt đầu và kết thúc việc bỏ phiếu: Trong ngày bầu cử đã được cơ quan có thẩm quyền quyết định, công bố, việc bỏ phiếu được bắt đầu từ 07 giờ sáng và thực hiện liên tục cho đến 07 giờ tối cùng ngày. Tùy tình hình địa phương, Tổ bầu cử có thể quyết định cho bắt đầu việc bỏ phiếu sớm hơn nhưng không được trước 05 giờ sáng hoặc kết thúc muộn hơn nhưng không được quá 09 giờ tối cùng ngày. Trường hợp gần đến giờ kết thúc việc bỏ phiếu theo quy định mà vẫn còn cử tri chưa thực hiện xong việc bỏ phiếu thì Tổ bầu cử có trách nhiệm thông báo đến các cử tri còn ở trong khu vực phòng bỏ phiếu về việc chuẩn bị kết thúc thời gian bỏ phiếu và đề nghị cử tri khẩn trương hoàn thành việc bỏ phiếu. Tổ bầu cử thực hiện việc đóng hòm phiếu vào đúng thời gian đã quy định, không phụ thuộc vào việc cử tri đã bỏ phiếu hết hay chưa. * Danh sách và khu vực bỏ phiếu của cử tri: Danh sánh cử tri do Ủy ban nhân dân cấp xã lập theo từng khu vực bỏ phiếu. Ngoài ra, danh sách cử tri trong đơn vị vũ trang nhân dân do chỉ huy đơn vị lập theo đơn vị vũ trang nhân dân để đưa vào danh sách cử tri của khu vực bỏ phiếu nơi đơn vị đóng quân. Các cử tri đang đăng ký thường trú tại địa bàn được ghi tên vào danh sách cử tri tại nơi mình thường trú; trường hợp cử tri có nguyện vọng bỏ phiếu ở nơi khác thì cần thông báo lại để Ủy ban nhân dân cấp xã không ghi tên vào danh sách cử tri ở địa phương. Chậm nhất là ngày 03 tháng 02 năm 2026 (40 ngày trước ngày bầu cử), Ủy ban nhân dân cấp xã đã lập danh sách cử tri phải niêm yết danh sách đó tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã và tại những địa điểm công cộng của khu vực bỏ phiếu, đồng thời thông báo rộng rãi danh sách cử tri và việc niêm yết để Nhân dân kiểm tra. Việc lập, niêm yết danh sách cử tri và việc thay đổi, bổ sung, cập nhật danh sách cử tri được thực hiện theo quy định của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, Thông tư số 21/2025/TT-BNV ngày 12 tháng 10 năm 2025 của Bộ Nội vụ và Quyết định số 8202/ Đ-BCA-C06 ngày 07 tháng 10 năm 2025 của Bộ Công an. Tg: Tâm Nhi
13:59 16/01/2026
864
Không đăng ký khai sinh cho con – cha mẹ có thể bị xử lý hình sự không?
Tại một vùng quê, một bé gái 10 tuổi được phát hiện chưa từng có giấy khai sinh. Bé không được đi học, không có bảo hiểm y tế, không được tiêm chủng, cũng không có bất kỳ loại giấy tờ tùy thân nào. Cả cha và mẹ của bé đều đã bỏ đi, không ai chăm sóc. Khi chính quyền địa phương vào cuộc, người ta mới giật mình nhận ra: đứa trẻ ấy đang “không tồn tại” về mặt pháp lý. Câu hỏi: Cha mẹ bỏ con, không khai sinh – Có thể cấu thành tội phạm gì? Trả lời: Theo Luật Hộ tịch năm 2014, cụ thể tại Điều 15, cha hoặc mẹ có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho con trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày sinh. Việc khai sinh là nghĩa vụ pháp lý đầu tiên của cha mẹ đối với con, bảo đảm cho đứa trẻ được công nhận là công dân, được thụ hưởng các quyền cơ bản như học tập, chăm sóc y tế, bảo trợ xã hội… Theo Điều 186 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), người nào có nghĩa vụ nuôi dưỡng mà từ chối hoặc trốn tránh, làm cho người được nuôi dưỡng rơi vào tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe, hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác, có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự: ► Điều 186. Tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng Người nào có nghĩa vụ cấp dưỡng mà từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng làm cho người được cấp dưỡng lâm vào tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe, cuộc sống thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm. Dù không dùng đúng thuật ngữ “khai sinh”, nhưng việc không khai sinh cho con đi kèm với hành vi bỏ rơi, không chăm sóc, không nuôi dưỡng, để trẻ sống lang thang, không học hành, không được chữa bệnh, có thể được xem là biểu hiện của hành vi “trốn tránh nghĩa vụ nuôi dưỡng”. Tùy mức độ hậu quả, cha mẹ có thể bị xử lý hình sự nếu chứng minh được: Có nghĩa vụ pháp lý phải nuôi dưỡng (tư cách cha mẹ hợp pháp), Có hành vi từ chối, bỏ mặc, trốn tránh, Hành vi đó gây hậu quả nghiêm trọng (trẻ bị xâm hại, bệnh tật không được điều trị, bị tước đoạt quyền học hành…). Trẻ không được khai sinh – hệ lụy nặng nề cả đời Một đứa trẻ không được đăng ký khai sinh không chỉ bị tước đoạt quyền công dân, mà còn bị thiệt thòi về mọi mặt: Không được đi học đúng tuyến, không có hồ sơ học sinh đầy đủ, Không có bảo hiểm y tế, không được khám chữa bệnh miễn phí như các trẻ khác, Không được bảo vệ hợp pháp khi bị xâm hại, không có giấy tờ để tố cáo hành vi vi phạm, Không được nhập hộ khẩu, không có CCCD, dẫn đến không thể tiếp cận dịch vụ xã hội, ngân hàng, việc làm sau này. Về bản chất, đứa trẻ bị “vô hình hóa” trong hệ thống pháp luật và xã hội – một vi phạm nghiêm trọng quyền con người, đi ngược với tinh thần bảo vệ trẻ em trong Luật Trẻ em 2016, Hiến pháp 2013 và các công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Khuyến nghị Việc không khai sinh cho con là hành vi vi phạm pháp luật. Nếu chỉ là vi phạm thủ tục, không có hậu quả, thì bị xử phạt hành chính. Nhưng nếu hành vi không khai sinh đi cùng với việc từ chối nghĩa vụ nuôi dưỡng, làm trẻ em lâm vào tình trạng bị tổn hại nghiêm trọng, thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 185 Bộ luật Hình sự. Cha mẹ, hoặc người giám hộ, cần nhận thức rõ trách nhiệm pháp lý và đạo đức của mình. Nếu trẻ chưa được khai sinh, cần làm thủ tục bổ sung khai sinh ngay, kể cả đã quá hạn. Trong trường hợp cha mẹ bỏ đi hoặc không rõ tung tích, người thân hoặc chính quyền địa phương có thể hỗ trợ đăng ký khai sinh theo trình tự quy định tại Điều 14, 15, 16 Luật Hộ tịch. Châu Vân - Phòng HCTP
11:00 12/01/2026
1538
Quy định về xác nhận quốc tịch Việt Nam
Hỏi: Ông Trần Thanh Hùng sinh ra tại Việt Nam, có giấy khai sinh và hộ khẩu thường trú tại Việt Nam. Năm 1990, ông A vượt biên sang Hoa Kỳ sinh sống. Đến nay, ông Trần Thanh Hùng đã định cư lâu dài tại Mỹ và có quốc tịch Hoa Kỳ. Hiện nay, khi về Việt Nam thăm thân nhân và gia đình, ông Trần Thanh Hùng muốn biết mình có còn quốc tịch Việt Nam hay không? Trường hợp ông Trần Thanh Hùng muốn có giấy tờ pháp lý để chứng minh còn quốc tịch Việt Nam thì ông Hùng cần phải làm thủ tục gì? Trả lời: Đối với trường hợp của ông Trần Thanh Hùng, năm 1990 ông vượt biên sang Hoa Kỳ sinh sống và không biết thông tin mình có còn quốc tịch Việt Nam hay không? Thứ nhất, trường hợp vượt biên ra nước ngoài hoặc định cư, nhập quốc tịch Mỹ không đương nhiên làm mất quốc tịch Việt Nam. Nếu ông A chưa làm thủ tục xin thôi quốc tịch Việt Nam và chưa có quyết định của Chủ tịch nước cho thôi/tước quốc tịch Việt Nam, thì về mặt pháp lý, ông A vẫn còn quốc tịch Việt Nam. Bởi vì, theo khoản 2 Điều 13 Luật Quốc tịch Việt Nam sửa đổi năm 2025 quy định người có quốc tịch Việt Nam như sau: “2. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà chưa mất quốc tịch Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì vẫn còn quốc tịch Việt Nam. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài chưa mất quốc tịch Việt Nam mà không có giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam theo quy định tại Điều 11 của Luật này thì đề nghị với cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài để được xác nhận có quốc tịch Việt Nam.” Ngoài ra, Điều 26 Luật Quốc tịch Việt Nam sửa đổi năm 2025 quy định về căn cứ mất quốc tịch Việt Nam như sau: “1. Được thôi quốc tịch Việt Nam. 2. Bị tước quốc tịch Việt Nam. 2a. Bị hủy bỏ Quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam, Quyết định cho trở lại quốc tịch Việt Nam. 4. Theo quy định tại khoản 2 Điều 18 và Điều 35 của Luật này. 5. Theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.” Do đó, trường hợp của Ông Trần Thanh Hùng chỉ mất quốc tịch Việt Nam khi: + Có quyết định cho thôi quốc tịch Việt Nam của Chủ tịch nước; hoặc + Bị tước quốc tịch Việt Nam theo quy định của pháp luật. Thứ hai, nếu muốn có giấy tờ pháp lý để chứng minh còn quốc tịch Việt Nam thì ông Trần Thanh Hùng cần phải làm thủ tục đề nghị cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy xác nhận có quốc tịch Việt Nam theo quy định. Bởi vì, theo khoản 2 đã nêu trên và khoản 3 Điều 13 Luật Quốc tịch Việt Nam sửa đổi năm 2025 quy định: “3. Chính phủ quy định trình tự, thủ tục xác nhận có quốc tịch Việt Nam.” và Điều 30 Nghị định số 191/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 đã quy định về Trình tự, thủ tục cấp Giấy xác nhận có quốc tịch Việt Nam. Một số lưu ý: - Trên thực tế, nhiều người Việt Nam ra nước ngoài từ lâu thường nhầm tưởng rằng mình đã mất quốc tịch Việt Nam, trong khi chưa từng làm thủ tục pháp lý về quốc tịch hoặc chưa có quyết định của cơ quan có thẩm quyền cho thoy quốc tịch Việt Nam. - Khi thực hiện các thủ tục như: xác nhận quốc tịch Việt Nam, hồi hương, thừa kế, hộ tịch…, cơ quan có thẩm quyền sẽ căn cứ hồ sơ pháp lý, không căn cứ vào việc sinh sống ở đâu. Thông điệp Sinh sống ở nước ngoài không đồng nghĩa với mất quốc tịch Việt Nam – quốc tịch chỉ thay đổi khi có quyết định của cơ quan có thẩm quyền. + Quốc tịch là quan hệ pháp lý đặc biệt giữa cá nhân và Nhà nước, không tự chấm dứt chỉ vì thay đổi nơi cư trú hay quốc tịch nước ngoài. + Người dân nên chủ động tìm hiểu và thực hiện đúng thủ tục pháp luật để bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp lâu dài của mình. Thúy Hà – Phòng HCTP
14:03 07/01/2026
2658
Công dân có quyền được biết, quyền đồng ý, quyền truy cập, chỉnh sửa và yêu cầu xóa dữ liệu cá nhân từ 01/01/2026
Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, dữ liệu cá nhân ngày càng được thu thập, xử lý và sử dụng rộng rãi trong hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội.
16:46 06/01/2026
837
Đối tượng nào được đăng ký mua nhà ở xã hội?
Hỏi: Cán bộ, công chức, viên chức đã nghỉ hưu có được mua nhà ở xã hội không? Vợ chồng ông Nguyễn Quang Đạt đều là giáo viên đã về hưu, đang thường trú tại xã Lương Sơn, tỉnh Lâm Đồng lương hưu của cả hai vợ chồng 20 triệu đồng/tháng, chưa đứng tên nhà đất và chưa được hỗ trợ nhà ở . Ông Đạt đăng ký mua nhà ở xã hội, có xác nhận ở trường về việc ông là viên chức đã nghỉ hưu, có quyết định chế độ hưởng lương hưu hằng tháng, UBND xã cũng xác nhận ông chưa đứng tên nhà đất. Tuy nhiên, Sở Xây dựng không đồng ý nhận hồ sơ với lý do ông là viên chức đã về hưu nên không được hỗ trợ chính sách về nhà ở xã hội, yêu cầu xét theo diện lao động tự do (không hợp đồng lao động). Ông Đạt hỏi, cán bộ, công chức, viên chức về hưu có được mua nhà ở xã hội hay không? Nếu được thì cần làm thủ tục gì, cơ quan nào xác nhận về đối tượng và sẽ thuộc đối tượng nào? Trả lời: Theo quy định của pháp luật về nhà ở hiện hành, cán bộ, công chức, viên chức đã nghỉ hưu vẫn có thể thuộc đối tượng được mua nhà ở xã hội, nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định. Cụ thể, Điều 76 Luật Nhà ở năm 2023 quy định các đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở. Trong đó, khoản 5 Điều 76 xác định “người thu nhập thấp tại khu vực đô thị” là một trong những đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ nhà ở xã hội. Tại khoản 1 Điều 78 Luật Nhà ở năm 2023, quy định: các đối tượng quy định tại các khoản 1, 4, 5, 6, 7, 8, 9 và 10 Điều 76, nếu đáp ứng điều kiện về nhà ở và điều kiện về thu nhập, thì được mua, thuê mua nhà ở xã hội. Nội dung này đã được Nghị định số 100/2024/NĐ-CP ngày 26/7/2024 của Chính phủ quy định chi tiết tại Điều 29 và Điều 30. Về điều kiện nhà ở, khoản 1 Điều 29 Nghị định số 100/2024/NĐ-CP quy định: người đăng ký mua nhà ở xã hội và vợ (chồng) của người đó (nếu có) không có tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất tại địa phương nơi có dự án nhà ở xã hội tại thời điểm nộp hồ sơ. Việc xác nhận tình trạng nhà ở do Văn phòng đăng ký đất đai hoặc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thực hiện theo quy định. Về điều kiện thu nhập, ngày 10/10/2025, Chính phủ ban hành Nghị định số 261/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 100/2024/NĐ-CP. Theo đó, đối với trường hợp người đứng đơn đã kết hôn, tổng thu nhập bình quân hằng tháng thực nhận của người đứng đơn và vợ (chồng) không vượt quá 40 triệu đồng/tháng, tính theo xác nhận của cơ quan, đơn vị có thẩm quyền. Bên cạnh đó, Thông tư số 32/2025/TT-BXD ngày 10/11/2025 của Bộ Xây dựng đã hướng dẫn cụ thể về hồ sơ, giấy tờ chứng minh đối tượng và thu nhập. Theo hướng dẫn tại Mẫu số 01a ban hành kèm theo Thông tư này: - Trường hợp người kê khai đang hưởng lương hưu, việc xác nhận thu nhập được thực hiện bởi cơ quan Bảo hiểm xã hội đang chi trả lương hưu hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đăng ký thường trú, tạm trú hoặc nơi ở hiện tại. - Đối với người đã nghỉ hưu, khi kê khai đối tượng được ghi rõ là “người thu nhập thấp tại khu vực đô thị (nghỉ hưu)”. Như vậy, cán bộ, công chức, viên chức đã nghỉ hưu cũng thuộc đối tượng được hưởng chính sách mua nhà ở xã hội nếu đáp ứng các điều kiện quy định. Trường hợp đã nghỉ chế độ (nghỉ hưu), nếu đáp ứng đầy đủ điều kiện về nhà ở và điều kiện về thu nhập theo quy định của Luật Nhà ở năm 2023 và các văn bản hướng dẫn thi hành, thì được xem xét mua nhà ở xã hội theo đúng đối tượng và trình tự, thủ tục pháp luật quy định. Ngọc Thủy - phòng PBGDPL
15:07 06/01/2026
2685
Trang
1234
Liên kết
Thống kê truy cập
  • Đang online: 42
  • Hôm nay: 1635
  • Trong tuần: 27120
  • Trong tháng: 87984
  • Tổng truy cập: 313239