ĐĂNG KÝ NHẬN CHA, MẸ, CON KHÔNG PHỤ THUỘC NƠI CƯ TRÚ TỪ NGÀY 01/3/2027

11:02 28/08/2026

Theo Luật Hộ tịch năm 2026, từ ngày 01/3/2027 việc đăng ký nhận cha, mẹ, con được thực hiện thuận lợi hơn cho người dân, theo hướng không còn phụ thuộc vào nơi cư trú của các bên, theo đó tại Điều 8 và Điều 18 Luật Hộ tịch năm 2026 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/3/2027) quy định thẩm quyền đăng ký nhận cha, mẹ, con như sau: Ủy ban nhân dân cấp xã không phụ thuộc vào nơi cư trú của cá nhân đăng ký nhận cha, mẹ, con cho các trường hợp: Giữa công dân Việt Nam với nhau mà ít nhất một bên cư trú ở trong nước; giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài với nhau mà ít nhất một bên cư trú tại Việt Nam; giữa công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam chưa xác định được quốc tịch đang sinh sống tại Việt Nam với nhau; giữa người gốc Việt Nam chưa xác định được quốc tịch đang sinh sống tại Việt Nam với nhau; giữa người gốc Việt Nam chưa xác định được quốc tịch đang sinh sống tại Việt Nam và người nước ngoài với nhau; giữa người nước ngoài với nhau mà ít nhất một bên thường trú tại Việt Nam. Như vậy, từ ngày 01/3/2027, người dân có thể thực hiện đăng ký nhận cha, mẹ, con tại Ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền mà không phải phụ thuộc vào nơi cư trú của cá nhân. Hình ảnh giải quyết thủ tục hành chính tại phường Xuân Hương – Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng TÌNH HUỐNG PHÁP LÝ: Đăng ký nhận cha, mẹ, con giữa công dân việt nam cư trú ở trong nước với công dân việt nam định cư ở nước ngoài không phụ thuộc nơi cư trú Ông Nguyễn Văn Nam là công dân Việt Nam, hiện đang định cư tại Đức. Năm 2020, ông Nam có thời gian về làm việc tại tỉnh Lâm Đồng và có quan hệ tình cảm với bà Trần Thị Hoa, là công dân Việt Nam thường trú tại xã Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng. Năm 2021, bà Hoa sinh một bé trai là Trần Minh Khang (đã được khai sinh theo diện chưa xác định được cha và đăng ký thường trú tại xã Đức Trọng). Hiện nay bà Hoa và con đang sinh sống và làm việc tại phường Xuân Hương – Đà Lạt. Năm 2026, ông Nam về Việt Nam làm việc tại phường Xuân Hương – Đà Lạt và có dự định trong thời gian tới sẽ thực hiện thủ tục đăng ký nhận cha, con nhằm xác lập mối quan hệ cha, con và bổ sung thông tin người cha trên Giấy khai sinh của con. Ông Nam đã chuẩn bị giấy tờ tùy thân và kết quả giám định ADN để chứng minh quan hệ cha, con, đồng thời bà Hoa cũng đồng ý với việc ông Nam nhận cháu Khang là con. Để đảm bảo việc nhận con được thực hiện thuận lợi, ông Nam liên hệ Ủy ban nhân dân phường Xuân Hương – Đà Lạt, nơi ông đang làm việc và cũng là nơi bà Hoa và cháu Khang đang sinh sống, để đề nghị hướng dẫn việc nhận cha, con. Đối chiếu quy định hiện hành (Luật Hộ tịch năm 2014): Ông Nam là công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài nên đây là trường hợp có yếu tố nước ngoài. Theo quy định của Luật Hộ tịch năm 2014 và Nghị định số 120/2025/NĐ-CP, trường hợp giữa công dân Việt Nam cư trú ở trong nước với công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người được nhận là cha, mẹ, con. Như vậy, Ủy ban nhân dân xã Đức Trọng là cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền giải quyết. Tuy nhiên, theo Luật Hộ tịch năm 2026 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/3/2027), thẩm quyền đăng ký nhận cha, mẹ, con được quy định theo hướng không phụ thuộc vào nơi cư trú đối với trường hợp đăng ký nhận cha, mẹ, con giữa công dân Việt Nam với nhau mà ít nhất một bên cư trú ở trong nước. Như vậy, kể từ ngày 01/3/2027, ông Nam có thể nộp hồ sơ nhận cha, con tại UBND cấp xã có thẩm quyền thuận tiện, nơi phù hợp với điều kiện của ông và của cháu Khang (có thể là UBND phường Xuân Hương – Đà Lạt hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã bất kỳ nào). Tình huống trên cho thấy sự khác biệt cơ bản trong cách xác định thẩm quyền giữa Luật Hộ tịch năm 2014 và Luật Hộ tịch năm 2026. Theo Luật Hộ tịch năm 2014, đối với trường hợp giữa công dân Việt Nam cư trú ở trong nước với công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài, việc xác định thẩm quyền gắn với nơi cư trú của người được nhận là cha, mẹ, con. Trong khi đó, theo Luật Hộ tịch năm 2026, trường hợp giữa công dân Việt Nam với nhau mà ít nhất một bên cư trú ở trong nước thì Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện đăng ký nhận cha, mẹ, con không phụ thuộc vào nơi cư trú của cá nhân. Quy định mới theo Luật Hộ tịch năm 2026 góp phần giảm chi phí, thời gian đi lại, tạo thuận lợi cho người dân, đặc biệt là những trường hợp có một bên đang sinh sống, làm việc hoặc định cư ở nước ngoài. Chu Nga – Phòng Hành chính tư pháp

XÁC ĐỊNH QUỐC TỊCH KHI ĐĂNG KÝ KHAI SINH - XÁC LẬP ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA CÁ NHÂN TRONG QUAN HỆ VỚI NHÀ NƯỚC
Xác định quốc tịch khi đăng ký khai sinh là một trong những nội dung cốt lõi của đăng ký hộ tịch, bởi đây không chỉ là việc ghi nhận một thông tin nhân thân mà còn là cơ sở xác lập địa vị pháp lý của cá nhân trong quan hệ với Nhà nước. Nếu xác định không đúng quốc tịch của trẻ, có thể làm phát sinh nhiều hệ quả pháp lý như hạn chế quyền nhân thân, quyền cư trú, quyền học tập, chăm sóc y tế, quyền được bảo hộ …; đồng thời có thể dẫn đến xung đột quốc tịch hoặc nghiêm trọng hơn là làm trẻ rơi vào tình trạng không quốc tịch. Luật Hộ tịch quy định việc xác định quốc tịch của người được khai sinh phải tuân theo pháp luật về quốc tịch. Với mục tiêu xuyên suốt là hạn chế tối đa tình trạng không quốc tịch, Luật Quốc tịch Việt Nam đã có quy định về việc xác định quốc tịch đối với từng trường hợp cụ thể như sau: Thứ nhất, đối với nhóm trẻ em sinh ra có cả cha và mẹ là công dân Việt Nam: Điều 15 của Luật Quốc tịch Việt nam năm 2008 quy định: trẻ em sinh ra trong hoặc ngoài lãnh thổ Việt Nam mà khi sinh ra có cha, mẹ đều là công dân Việt Nam thì có quốc tịch Việt Nam. Trên thực tế, vẫn có cách hiểu chưa thống nhất đối với trường hợp trẻ em có cả cha và mẹ là công dân Việt Nam nhưng sinh ra ở nước ngoài. Đối với trường hợp này cần hiểu rằng, trẻ em có quốc tịch Việt Nam ngay từ thời điểm sinh ra, không phụ thuộc vào việc được khai sinh và xác định có quốc tịch nước ngoài hay chưa. Nghĩa là, trong mọi trường hợp trẻ em sinh ra trong hay ngoài lãnh thổ Việt Nam mà có cha mẹ là công dân Việt Nam, thì trẻ em có quốc tịch Việt Nam mà không phụ thuộc vào việc trẻ em đã được đăng ký khai sinh và xác định có quốc tịch nước ngoài hay chưa. Hình ảnh giải quyết các việc hộ tịch cho người dân tại UBND xã Quảng Trực - xã biên giới của tỉnh Lâm Đồng Thứ hai, đối với nhóm trẻ em có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam còn người kia là công dân nước ngoài: Khoản 2 Điều 16 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 được sửa đổi tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quốc tịch Việt Nam, quy định: Trẻ em sinh ra có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam còn người kia là công dân nước ngoài thì có quốc tịch Việt Nam, nếu cha mẹ thỏa thuận lựa chọn quốc tịch Việt Nam cho con khi thực hiện thủ tục về khai sinh tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam. Trường hợp trẻ em được sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam mà cha mẹ không thỏa thuận được việc lựa chọn quốc tịch cho con thì trẻ em đó có quốc tịch Việt Nam. Khoản 1 Điều 9 Nghị định số 191/2025/NĐ-CP quy định Xác định quốc tịch của trẻ em khi thực hiện thủ tục về khai sinh đối với trường hợp trẻ em sinh ra có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam còn người kia là công dân nước ngoài, cụ thể: + Trẻ em có quốc tịch Việt Nam nếu cha mẹ thỏa thuận lựa chọn quốc tịch Việt Nam cho con khi thực hiện đăng ký khai sinh. Thỏa thuận lựa chọn quốc tịch cho con khi đăng ký khai sinh có yếu tố nước ngoài + Trường hợp trẻ em được sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam mà cha mẹ không thỏa thuận được việc lựa chọn quốc tịch cho con khi thực hiện đăng ký khai sinh thì trẻ em đó có quốc tịch Việt Nam. Cha hoặc mẹ lập văn bản cam đoan về việc không thỏa thuận được việc lựa chọn quốc tịch cho con và chịu trách nhiệm về việc cam đoan này. + Trường hợp trẻ em đã được đăng ký khai sinh tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài, có quốc tịch nước ngoài thì trẻ em đó có quốc tịch Việt Nam nếu cha mẹ thỏa thuận lựa chọn quốc tịch Việt Nam cho con khi thực hiện ghi vào Sổ hộ tịch việc khai sinh và việc giữ quốc tịch nước ngoài phải phù hợp với pháp luật của nước mà trẻ đang mang quốc tịch. Cha mẹ trẻ phải có bản cam đoan về việc giữ quốc tịch nước ngoài phù hợp với pháp luật của nước mà trẻ đang mang quốc tịch và chịu trách nhiệm về việc cam đoan này. + Trường hợp cha, mẹ lựa chọn quốc tịch nước ngoài cho con khi đăng ký khai sinh, thì ngoài văn bản thỏa thuận lựa chọn quốc tịch còn phải có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền của nước mà trẻ được chọn mang quốc tịch về việc trẻ có quốc tịch phù hợp quy định pháp luật của nước đó. Nếu cơ quan có thẩm quyền nước ngoài không xác nhận thì cơ quan đăng ký hộ tịch thực hiện đăng ký khai sinh cho trẻ, nhưng để trống phần ghi về quốc tịch trong Giấy khai sinh và Sổ đăng ký khai sinh. Thứ ba, đối với trẻ em khi sinh ra có cha hoặc mẹ là người không quốc tịch: Điều 17 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 quy định: Trẻ em sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam mà khi sinh ra có cha mẹ đều là người không quốc tịch, nhưng có nơi thường trú tại Việt Nam thì có quốc tịch Việt Nam. Trẻ em sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam mà khi sinh ra có mẹ là người không quốc tịch, nhưng có nơi thường trú tại Việt Nam, còn cha không rõ là ai thì có quốc tịch Việt Nam. Thứ tư, xác định quốc tịch của trẻ sơ sinh bị bỏ rơi, trẻ em được tìm thấy trên lãnh thổ Việt Nam: Để bảo vệ quyền, lợi ích của trẻ, Điều 18 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 quy định: Trẻ sơ sinh bị bỏ rơi, trẻ em được tìm thấy trên lãnh thổ Việt Nam mà không rõ cha mẹ là ai thì có quốc tịch Việt Nam, trường hợp trẻ tìm thấy cha mẹ mà cha mẹ chỉ có quốc tịch nước ngoài hoặc chỉ tìm thấy cha hoặc mẹ mà người đó chỉ có quốc tịch nước ngoài thì trẻ chưa đủ 15 tuổi không còn quốc tịch Việt Nam. Như vậy, việc xác định đúng quốc tịch ngay khi đăng ký khai sinh là biện pháp phòng ngừa hiệu quả nhất nhằm giảm thiểu tình trạng không quốc tịch và bảo đảm quyền trẻ em. Có thể thấy rằng pháp luật Việt Nam đã thiết lập tương đối đầy đủ cơ chế xác định quốc tịch khi đăng ký khai sinh theo hướng kết hợp giữa Luật Hộ tịch và Luật Quốc tịch Việt Nam. Các quy định hiện hành thể hiện rõ chính sách ưu tiên bảo đảm mọi trẻ em đều có quốc tịch ngay từ khi sinh, đặc biệt thông qua việc công nhận quốc tịch Việt Nam trong các trường hợp trẻ có nguy cơ không quốc tịch như trẻ bị bỏ rơi, trẻ chưa xác định được cha mẹ hoặc trẻ sinh tại Việt Nam có cha mẹ không quốc tịch thường trú tại Việt Nam. Tuy nhiên, trong bối cảnh gia tăng các quan hệ hôn nhân và di cư có yếu tố nước ngoài, vẫn còn những khó khăn trong việc xác minh quốc tịch nước ngoài, phối hợp giữa các cơ quan và áp dụng pháp luật nước ngoài. Vì vậy, việc tiếp tục hoàn thiện cơ chế xác định quốc tịch theo hướng vừa bảo đảm đúng quy định của pháp luật hộ tịch, vừa đặt quyền có quốc tịch của trẻ em làm trung tâm sẽ góp phần thực hiện tốt cam kết của Việt Nam trong bảo vệ quyền con người và phòng ngừa tình trạng không quốc tịch. Chu Nga – Phòng Hành chính tư pháp
09:15 04/08/2026
138
TRẺ BỊ BỎ RƠI, XÁC ĐỊNH ĐƯỢC DANH TÍNH NGƯỜI MẸ THÌ XỬ LÝ NHƯ THẾ NÀO?
Trường hợp về một trẻ bị bỏ rơi tại Khoa Nhi, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lâm Đồng. Công an phường Cam Ly - Đà Lạt lập Biên bản trẻ bị bỏ rơi ngày 06/7/2026, trẻ là bé trai đã được điều trị tại Khoa Nhi khoảng 02 tháng nhưng không có người thân đến chăm sóc hoặc nhận về. Có Căn cước công dân của sản phụ tên Phạm Thị Hương và bản gốc Giấy chứng sinh do bệnh viện cấp ngày 18/4/2026, qua tra cứu Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, công dân Phạm Thị Hương có đăng ký thường trú tại thôn Ngọc Thành, xã Minh Sơn, tỉnh Thanh Hóa; đăng ký tạm trú tại số 12 đường Chi Lăng, phường Lâm Viên - Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Hiện nay, trẻ đã được bàn giao cho Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Lâm Đồng và UBND phường Cam Ly - Đà Lạt đã thực hiện niêm yết, hết thời hạn niêm yết không có cha, mẹ trẻ đến nhận. Hình ảnh: Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lâm Đồng Hỏi: Trường hợp bé trai không có người thân đến nhận này đăng ký khai sinh thuộc trường hợp trẻ bị bỏ rơi hay thuộc trường hợp trẻ không xác định cha, mẹ? Trả lời: Trường hợp trên, qua tra cứu có thông tin xác thực người mẹ là bà Phạm Thị Hương, đăng ký thường trú tại thôn Ngọc Thành, xã Minh Sơn, tỉnh Thanh Hóa; đăng ký tạm trú tại số 12 đường Chi Lăng, phường Lâm Viên - Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Do đó, thuộc trường hợp đăng ký khai sinh cho trẻ chưa xác định được cha. Hỏi: Vậy trụ sở Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lâm Đồng nằm trên địa bàn UBND phường Cam Ly – Đà Lạt, thì thẩm quyền đăng ký khai sinh cho trẻ có phải thuộc thẩm quyền của UBND phường Cam Ly – Đà Lạt hay không? Trả lời: Không. Căn cứ Điều 13 Luật Hộ tịch năm 2014, việc đăng ký khai sinh thuộc thẩm quyền của UBND cấp xã nơi cư trú của người cha hoặc mẹ. Đồng thời, khoản 1 Điều 11 Luật Cư trú năm 2020 quy định: “Nơi cư trú của công dân bao gồm nơi thường trú và tạm trú.”. Do đó, việc đăng ký khai sinh thuộc thẩm quyền của UBND cấp xã nơi cư trú của bà Phạm Thị Hương (nơi thường trú hoặc nơi tạm trú). Hình ảnh: người dân đến Trung tâm Phục vụ hành chính công nộp hồ sơ Hỏi: Trong trường hợp này, cá nhân, cơ quan, tổ chức nào có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho trẻ? Trả lời: Theo khoản 1 Điều 15 Luật Hộ tịch năm 2014 quy định: “Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày sinh con, cha hoặc mẹ có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho con; trường hợp cha, mẹ không thể đăng ký khai sinh cho con thì ông hoặc bà hoặc người thân thích khác hoặc cá nhân, tổ chức đang nuôi dưỡng trẻ em có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho trẻ em.”. Trường hợp trên, do Trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh Lâm Đồng đang tiếp nhận, chăm sóc trẻ, nên Trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh Lâm Đồng có trách nhiệm liên hệ cơ quan có thẩm quyền để đăng ký khai sinh cho trẻ. Hỏi: Còn các nội dung về họ, dân tộc, quê quán, quốc tịch của trẻ được xác định như thế nào? Trả lời: Các nội dung về họ, dân tộc, quê quán, quốc tịch của trẻ được xác định theo họ, dân tộc, quê quán, quốc tịch của mẹ; phần ghi về cha trong Sổ hộ tịch và Giấy khai sinh của trẻ để trống (căn cứ khoản 2 Điều 15 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2015 của Chính phủ). THÔNG ĐIỆP: Mỗi trẻ em đều có quyền được khai sinh, dù bị bỏ rơi hay không có cha mẹ trực tiếp chăm sóc. Không để bất kỳ trẻ em nào bị bỏ lại phía sau - Mỗi trẻ đều có quyền được khai sinh, được xác lập nhân thân và được pháp luật bảo vệ. Kim Oanh – phòng HCTP
14:37 28/07/2026
186
ĐIỀU KIỆN THÀNH LẬP HỘI ĐỒNG THẨM ĐỊNH GIÁ TRONG CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC
Câu hỏi: Tại Sở A - Đơn vị quản lý hành chính nhà nước (gọi tắt là Sở A), sau khi thực hiện chủ trương hợp nhất chính quyền địa phương 02 cấp, tài sản của Sở A bị dôi dư cần thực hiện thanh lý tài sản công. Hiện tại, Sở A có 02 công chức có Chứng chỉ bồi dưỡng thẩm định giá nhà nước. Vậy, Sở A có được thành lập Hội đồng thẩm định giá gồm 04 thành viên để định giá các tài sản cần thành lý theo Luật Giá năm 2023 và các văn bản hướng dẫn thi hành không? Trả lời: Căn cứ theo quy định tại Khoản 2 Điều 60 Luật Giá năm 2023 và các văn bản hướng dẫn thi hành (Nghị định số 85/2024/NĐ-CP ngày 10/7/2024 của Chính phủ), cơ cấu Hội đồng 04 thành viên của Sở A hoàn toàn đáp ứng đầy đủ các điều kiện của pháp luật. Đáp ứng điều kiện về số lượng tối thiểu Pháp luật quy định Hội đồng thẩm định giá của Nhà nước phải có tối thiểu 03 thành viên. Việc Sở A thành lập Hội đồng gồm 04 thành viên là hoàn toàn hợp pháp về mặt số lượng. (Trường Bồi dưỡng cán bộ Kinh tế - Tài chính, Bộ Tài chính phối hợp với Sở Tài chính tỉnh Lâm Đồng tổ chức các lớp Bồi dưỡng chứng chỉ thẩm định giá nhà nước tại tỉnh Lâm Đồng) Đáp ứng điều kiện về tỷ lệ năng lực chuyên môn Đây là điều kiện cốt lõi và nghiêm ngặt nhất của Luật Giá năm 2023. Quy định nêu rõ: Hội đồng thẩm định giá phải có ít nhất 50% số lượng thành viên (bao gồm cả Chủ tịch Hội đồng) đáp ứng tiêu chuẩn về năng lực chuyên môn (có bằng cấp về giá/thẩm định giá, Thẻ thẩm định viên về giá hoặc Chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức, nghiệp vụ về thẩm định giá/thẩm định giá nhà nước). Xét trường hợp cụ thể của Sở A: Tổng số thành viên Hội đồng: 04 người. Số thành viên có Chứng chỉ bồi dưỡng thẩm định giá nhà nước: 02 người. Tỷ lệ thành viên có chuyên môn: 2/4 = 50% (Đạt tỷ lệ tối thiểu phải có ít nhất 50% theo luật định). Lưu ý quan trọng khi bố trí nhân sự tại Sở A Để quyết định thành lập Hội đồng hoàn toàn hợp lệ, Sở A cần lưu ý cấu trúc nhân sự như sau: Vị trí Chủ tịch Hội đồng: Phải do Lãnh đạo Sở A (hoặc người được ủy quyền hợp pháp) đảm nhiệm. Nếu một trong hai công chức có chứng chỉ nêu trên là Lãnh đạo Sở, người đó có thể kiêm nhiệm luôn vị trí Chủ tịch Hội đồng. Nếu Lãnh đạo Sở không có chứng chỉ, vẫn làm Chủ tịch Hội đồng thẩm định giá, trong đó 3 thành viên còn lại có đủ 2 công chức có chứng chỉ để giữ đúng tỷ lệ 50% cho toàn Hội đồng là đúng theo quy định. Thành phần còn lại: Cần bố trí đại diện của bộ phận quản lý tài sản công và bộ phận tài chính - kế toán của Sở để đảm bảo đúng cơ cấu vận hành. Như vậy, Sở A được phép thành lập Hội đồng thẩm định giá gồm 04 thành viên để định giá tài sản thanh lý. Tâm Nhi – VP Sở
18:00 14/07/2026
384
Con riêng của vợ/chồng: Pháp luật quy định quyền và nghĩa vụ như thế nào?
Gia đình Việt Nam ngày nay không còn bó hẹp trong khuôn mẫu truyền thống một vợ, một chồng, một lứa con chung. Ngày càng nhiều người sau ly hôn hoặc góa bụa tìm đến hạnh phúc mới, mang theo con riêng về sống chung dưới một mái nhà với cha dượng, mẹ kế. Trong hành trình ấy, không ít câu hỏi được đặt ra: cha dượng, mẹ kế có bắt buộc phải nuôi dưỡng con riêng của vợ, chồng mình hay không? Con riêng có được thừa kế tài sản của cha dượng, mẹ kế sau này? Bài viết dưới đây sẽ giúp bạn đọc hiểu rõ quyền và nghĩa vụ giữa các bên theo quy định pháp luật hiện hành. Cha dượng, mẹ kế và con riêng: Quyền, nghĩa vụ phát sinh khi nào? Khác với quan hệ cha mẹ – con đẻ, quan hệ giữa cha dượng, mẹ kế với con riêng của vợ hoặc chồng không đương nhiên phát sinh khi cha mẹ tái hôn, mà chỉ phát sinh quyền và nghĩa vụ pháp lý khi hai bên cùng sống chung với nhau. Đây là điểm mà người dân cần đặc biệt lưu ý để tránh hiểu sai về pháp luật. Điều 79 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định cụ thể: cha dượng, mẹ kế có quyền và nghĩa vụ trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con riêng của bên kia cùng sống chung với mình theo quy định tại các Điều 69, 71 và 72 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; ngược lại, con riêng có quyền và nghĩa vụ chăm sóc, phụng dưỡng cha dượng, mẹ kế cùng sống chung với mình theo quy định tại Điều 70 và Điều 71 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Một số nội dung pháp lý cần lưu ý: - Về nghĩa vụ cấp dưỡng: cha dượng, mẹ kế không đương nhiên có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con riêng như cha, mẹ đẻ. Việc hỗ trợ tài chính, nếu có, mang tính tự nguyện hoặc theo thỏa thuận giữa các bên, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. - Về thời điểm chấm dứt: khi cha, mẹ ly hôn hoặc không còn sống chung, quan hệ cùng sống chung giữa cha dượng, mẹ kế với con riêng chấm dứt, kéo theo nghĩa vụ trông nom, nuôi dưỡng theo Điều 79 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cũng chấm dứt, trừ khi các bên có thỏa thuận khác. - Về thừa kế: theo Điều 654 Bộ luật Dân sự 2015, con riêng và bố dượng, mẹ kế chỉ được thừa kế di sản của nhau (kể cả thừa kế thế vị) nếu có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con trên thực tế. Đây là quan hệ thừa kế có điều kiện, khác với thừa kế đương nhiên giữa cha mẹ đẻ và con đẻ. Ngoài ra, con riêng vẫn có thể được hưởng di sản nếu cha dượng, mẹ kế lập di chúc để lại tài sản cho mình. - Về cấm kết hôn: pháp luật nghiêm cấm việc kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa người đã từng là cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng (điểm d khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình 2014). Hành vi vi phạm có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định. Thu Yến – Phòng PBGDPL
14:07 13/07/2026
410
Trẻ sinh ra ở nước ngoài, nhập cảnh bằng đường tiểu ngạch vào Việt Nam có được làm giấy khai sinh không?
Chị Nguyễn Thị H (người Việt Nam cư trú tại tỉnh Lâm Đồng) sang nước ngoài kết hôn bằng đường tiểu ngạch, không có giấy tờ hợp pháp. Năm 2013, chị H sinh một bé gái tại nước ngoài nhưng không được gia đình chồng thừa nhận. Do đó, chị H đã đưa con về Việt Nam sinh sống bằng đường tiểu ngạch (không qua cửa khẩu). Khi về nước, cháu bé hoàn toàn không có giấy tờ tùy thân và chưa từng được đăng ký khai sinh tại bất kỳ cơ quan có thẩm quyền nào ở nước ngoài. Nay chị H muốn làm thủ tục đăng ký khai sinh cho con tại Việt Nam. CÂU HỎI ĐẶT RA Câu 1. Chị Nguyễn Thị H có thể đăng ký khai sinh cho con tại Việt Nam được không? Thủ tục xác minh được tiến hành như thế nào? Chị Nguyễn Thị H hoàn toàn được phép đăng ký khai sinh cho con tại Việt Nam. Theo quy định tại Điều 29 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP và Điều 7 Thông tư số 04/2020/TT-BTP, trẻ em sinh ra ở nước ngoài, có mẹ là công dân Việt Nam, về nước cư trú và chưa được đăng ký khai sinh thì thuộc diện được giải quyết đăng ký khai sinh trong nước. Do trường hợp này nhập cảnh tiểu ngạch và không có giấy tờ, thủ tục sẽ được thực hiện như sau: Thủ tục xác minh: UBND cấp xã sẽ phối hợp với cơ quan Công an cùng cấp tiến hành kiểm tra, xác minh rõ: nhân thân của trẻ, thời gian về nước, người đi cùng, quá trình cư trú liên tục tại địa phương từ khi về nước đến nay. Cam đoan của người mẹ: Sau khi xác minh nội dung chị H cung cấp là đúng (trẻ chưa từng có giấy tờ, chưa được đăng ký khai sinh hay xác định quốc tịch ở nước ngoài), UBND cấp xã sẽ hướng dẫn chị H lập văn bản cam đoan để hoàn thiện hồ sơ. Cơ quan giải quyết: UBND cấp xã nơi chị H và cháu bé đang cư trú sinh sống. Câu 2: Thành phần hồ sơ đăng ký khai sinh bao gồm những gì? Do cháu bé không có giấy tờ từ nước ngoài mang về, chị H cần chuẩn bị và phối hợp hoàn thiện bộ hồ sơ gồm: Tờ khai đăng ký khai sinh (theo mẫu quy định). Văn bản cam đoan của chị H về các nội dung: Trẻ sinh ra tại nước ngoài; chưa từng được đăng ký khai sinh hay cấp giấy tờ tùy thân ở bất kỳ đâu; lý do nhập cảnh bằng đường tiểu ngạch và cam đoan về quốc tịch của trẻ. Giấy tờ của người mẹ: Căn cước công dân hoặc Hộ chiếu còn giá trị; giấy tờ chứng minh nơi cư trú tại địa phương. Biên bản kiểm tra, xác minh về nhân thân, quá trình nhập cảnh và cư trú của trẻ (do cơ quan Công an có thẩm quyền phối hợp lập và xác nhận). Lời khuyên: Chị H cần chủ động phối hợp và cung cấp thông tin hoàn toàn trung thực, chính xác cho cơ quan Công an khi tiến hành xác minh (về thời gian, cửa ngõ nhập cảnh, quá trình sinh sống tại địa phương...). Ngay sau khi có kết quả xác minh từ phía Công an, UBND cấp xã sẽ tiến hành giải quyết đăng ký và cấp Giấy khai sinh cho cháu bé. Bích Trâm, Phòng HCTP
11:28 23/06/2026
263
Có quyền thay đổi họ, tên và chữ đệm hay không?
Tên gọi không chỉ là dấu hiệu nhận biết của mỗi cá nhân mà còn gắn liền với danh dự, nhân phẩm và các quyền nhân thân được pháp luật bảo vệ. Trong thực tế, có những trường hợp tên gọi không phù hợp với giới tính, ngoại hình hoặc hoàn cảnh sống, gây ra nhiều khó khăn trong học tập, lao động và giao tiếp xã hội.
08:18 16/06/2026
640
Cách xử lý đối với trường hợp nhận con nuôi thực tế nhưng không khai báo với chính quyền địa phương
Hỏi đáp pháp luật: Cách xử lý đối với trường hợp nhận con nuôi thực tế nhưng không khai báo với chính quyền địa phương Sáu năm trước, vợ chồng ông Minh và bà Thu, nhận nuôi một bé gái bị bỏ rơi tại bệnh viện và đặt tên là An. Vì thiếu hiểu biết pháp luật lại sợ người đời dị nghị, ông bà lặng lẽ nuôi nấng An như con ruột mà không hề làm thủ tục đăng ký khai sinh hay khai báo với chính quyền. Đến khi An tròn 6 tuổi, chuẩn bị đi học, nhà trường yêu cầu bản sao Giấy khai sinh và Mã số định danh để hoàn thiện hồ sơ nhập học. Lúc này, hai vợ chồng mới biết sự thiếu hiểu biết năm xưa sẽ gây khó khăn cho con mình. MỘT SỐ CÂU HỎI ĐẶT RA 1. Câu hỏi: Tự ý đưa trẻ bị bỏ rơi tại bệnh viện về nuôi mà không đăng ký với cơ quan có thẩm quyền, quan hệ nuôi con nuôi của vợ chồng ông Minh có được pháp luật công nhận không ? Trả lời: Không. Việc tự ý nuôi dưỡng này chưa làm phát sinh quan hệ cha mẹ và con nuôi hợp pháp về mặt pháp lý. Căn cứ pháp lý: Theo Khoản 1 Điều 6 và Điều 22 Luật Nuôi con nuôi năm 2010, quan hệ cha mẹ và con hợp pháp chỉ chính thức phát sinh kể từ ngày giao nhận con nuôi và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền (UBND cấp xã) trao Giấy chứng nhận nuôi con nuôi. Áp dụng thực tế: Mặc dù vợ chồng ông Minh có công chăm sóc, yêu thương bé An suốt 6 năm như con ruột, nhưng vì xuất phát từ sự thiếu hiểu biết pháp luật, ông bà đã bỏ qua thủ tục khai báo trẻ bị bỏ rơi và thủ tục đăng ký nuôi con nuôi tại Ủy ban nhân dân cấp xã. Do đó, sự việc này chưa làm phát sinh quyền, nghĩa vụ pháp lý của cha mẹ nuôi và con nuôi theo quy định. 2. Câu hỏi: Trẻ bị mẹ ruột bỏ lại bệnh viện, không có Giấy chứng sinh thì vợ chồng ông Minh phải làm Giấy khai sinh cho bé An thế nào? Trả lời: Vì bé An thuộc diện trẻ bị bỏ rơi, đã được nuôi dưỡng thực tế 6 năm nhưng chưa được khai sinh và không có Giấy chứng sinh, thủ tục đăng ký khai sinh sẽ được thực hiện theo quy định đối với trẻ bị bỏ rơi tại Điều 14 Nghị định 123/2015/NĐ-CP và hướng dẫn tại Thông tư 04/2020/TT-BTP với các bước cụ thể như sau: Bước 1: Khai báo và xác nhận tình trạng trẻ bị bỏ rơi: Vợ chồng ông Minh phải đến UBND cấp xã nơi cư trú thực tế của bé An để khai báo về việc đang nuôi dưỡng trẻ bị bỏ rơi. UBND cấp xã sẽ phối hợp với Công an cấp xã tiến hành kiểm tra, xác minh và lập Biên bản xác nhận việc trẻ bị bỏ rơi (biên bản này ghi nhận rõ thời điểm phát hiện, thời gian và tình trạng nuôi dưỡng thực tế suốt 6 năm qua). Bước 2: Niêm yết công khai và xác minh thông tin: UBND cấp xã tiến hành niêm yết công khai tại trụ sở về việc trẻ bị bỏ rơi trong thời hạn 07 ngày liên tục. Đồng thời, cơ quan Công an sẽ tiến hành xác minh để đảm bảo đứa trẻ không phải là nạn nhân của các vụ chiếm đoạt, bắt cóc hoặc mua bán người. Bước 3: Thực hiện đăng ký khai sinh: Sau khi hết thời hạn niêm yết và có kết quả xác minh từ cơ quan Công an, công chức Văn phòng UBND xã phụ trách công tác tư pháp - hộ tịch sẽ tiến hành đăng ký khai sinh cho bé An. Về phần khai Cha, Mẹ: Căn cứ theo Khoản 2 Điều 15 Nghị định 123/2015/NĐ-CP, vì chưa xác định được cha, mẹ ruột, phần thông tin này trên Giấy khai sinh của An tạm thời để trống. Họ, quê quán, dân tộc của An sẽ được xác định theo thông tin của người đang tạm thời nuôi dưỡng (ông Minh hoặc bà Thu) theo yêu cầu của ông bà. Quốc tịch của bé được xác định là quốc tịch Việt Nam. 3. Câu hỏi: Làm sao để Giấy khai sinh của bé An có tên của ông Minh và bà Thu với tư cách là Cha, Mẹ? Trả lời: Để chính thức đứng tên là Cha và Mẹ nuôi trên Giấy khai sinh của bé An, thì vợ chồng ông Minh phải thực hiện các trình tự thủ tục sau: Bước 1: Đăng ký nhận nuôi con nuôi Sau khi bé An đã được cấp Giấy khai sinh (với phần ghi về cha mẹ còn để trống), vợ chồng ông Minh phải nộp hồ sơ xin nhận con nuôi tại UBND cấp xã nơi cư trú. Căn cứ Điều 9 và Điều 22 Luật Nuôi con nuôi năm 2010, sau khi kiểm tra đủ điều kiện, UBND cấp xã sẽ cấp Giấy chứng nhận nuôi con nuôi cho gia đình. Vì bé An mới 6 tuổi (dưới 9 tuổi) nên việc nhận nuôi hoàn toàn do vợ chồng ông Minh tự quyết định mà không cần văn bản đồng ý của trẻ (quy định tại Khoản 1 Điều 21 Luật Nuôi con nuôi chỉ bắt buộc áp dụng đối với trẻ từ đủ 9 tuổi trở lên). Bước 2: Ghi thông tin cha mẹ nuôi vào Giấy khai sinh Căn cứ pháp lý: Theo Khoản 3 Điều 14 Nghị định 123/2015/NĐ-CP, trường hợp trẻ chưa xác định được cha, mẹ mà sau đó được nhận làm con nuôi thì cha mẹ nuôi có quyền yêu cầu cơ quan đăng ký hộ tịch ghi tên mình vào phần khai về cha, mẹ trong Giấy khai sinh và Sổ đăng ký khai sinh của trẻ. BÀI HỌC RÚT RA: Đối với người dân: Khi phát hiện trẻ bị bỏ rơi hoặc có nguyện vọng nhận con nuôi, cần lập tức đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú để khai báo, phối hợp lập biên bản và thực hiện thủ tục đăng ký khai sinh, đăng ký nuôi con nuôi theo đúng trình tự pháp luật. Khẩu hiệu hành động: "Chung tay bảo vệ quyền trẻ em – Đăng ký hộ tịch kịp thời là trách nhiệm, là tình yêu thương của cha mẹ." Châu Vân – phòng HCTP
09:57 03/06/2026
987
Hỏi - Đáp về Ủy quyền Quyết Toán Thuế Thu Nhập Cá Nhân
Tải PDF
09:18 25/05/2026
282
Hỏi đáp: Vai trò của người Phụ nữ trong gia đình?
Nga là hình mẫu phụ nữ truyền thống điển hình: hiền hậu, tần tảo và luôn coi sự nhẫn nhịn là đức hạnh cao quý nhất. Trong suốt 15 năm hôn nhân, cô chấp nhận lùi lại phía sau để làm hậu phương lo việc nội trợ và nuôi dạy, đưa đón 2 đứa con đi học, để chồng mình là ông Hòa với vai trò "trụ cột" duy nhất, hàng tháng chi tiêu trong gia đình Nga được chồng đưa một khoản để chi tiêu. Ngày qua ngày, Nga dần trở thành một "cái bóng" đúng nghĩa, không biết được số tiền làm ăn của gia đình? Không biết chồng mình có bao nhiêu tiền đầu tư vào việc gì? Không có đòn roi, không có thương tích, nhưng sự áp đặt và cô lập kinh tế của ông Hòa như một sợi dây thừng vô hình siết chặt lấy sự tự do của cô. Mỗi khi Nga định lên tiếng, ông chỉ ném lại một câu nói lạnh lùng: "Cô không làm ra tiền, cô không có quyền định đoạt. Việc của cô là phục vụ cái nhà này cho tốt!" 1. Đỉnh điểm của sự bạo lực tinh thần: Sóng gió thực sự ập đến khi ông Hòa tự ý bán đi mảnh đất hồi môn của mẹ đẻ Nga để lại – kỷ vật duy nhất cô còn giữ về gia đình mình. Dù mảnh đất đã được nhập vào tài sản chung sau khi cưới, nhưng ông Hòa coi đó là tài sản của riêng mình vì "ông đứng tên trên giấy tờ". Khi Nga bàng hoàng hỏi lý do, ông Hòa không những không thấy lỗi mà còn quăng cái nhìn sắc lạnh: "Lo cơm nước cho tử tế đi! Đất tên tôi, tiền tôi làm ra, cô không đóng góp một đồng thì tư cách gì mà ý kiến? Nếu còn 'lắm lời', tôi sẽ cho cô ra khỏi nhà với hai bàn tay trắng!" Cảm giác bị gạt ra khỏi chính gia đình mình khiến Nga rơi vào trầm cảm. Cô từng tin rằng "đạo tòng phu" là phải phục tùng tuyệt đối và pháp luật sẽ chẳng bao giờ can thiệp vào chuyện "đóng cửa bảo nhau". 2. Sự thức tỉnh từ những điều luật "biết nói" Bước ngoặt xảy ra khi Nga tham gia buổi sinh hoạt của Câu lạc bộ Phụ nữ và Pháp luật. Tại đây, cô bàng hoàng nhận ra mình không hề "vô giá trị" như lời chồng nói. Những điều luật vốn khô khan bỗng trở thành lá chắn vững chắc: Quyền bình đẳng tuyệt đối: Theo Điều 17 Luật Hôn nhân và Gia đình, vợ chồng có quyền ngang nhau về mọi mặt, từ việc quyết định nơi cư trú đến việc bàn bạc các kế hoạch chung. Giá trị của "Lao động không lương": Pháp luật quy định công việc nội trợ được tính là lao động có thu nhập tương đương với người đi làm. Nga có quyền lợi ngang bằng với chồng đối với mọi tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân. Bạo lực không chỉ là đòn roi: Việc xúc phạm, kiểm soát hành vi và cô lập kinh tế chính là hành vi Bạo lực gia đình theo quy định pháp luật hiện hành. 3. Tìm lại tiếng nói: Cuộc chiến của lý trí Thay vì chọn cách ly hôn trong uất ức, Nga chọn cách dùng pháp luật để "tái cấu trúc" lại sự tôn trọng. Lần đầu tiên trong đời, cô đặt lên bàn làm việc của chồng một xấp tài liệu pháp lý và tờ đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch bán đất vô hiệu. Trước sự kiên quyết của vợ, ông Hòa từ ngỡ ngàng chuyển sang e dè. Ông nhận ra sự im lặng của Nga bấy lâu không phải là nhu nhược, mà là sự nhẫn nhịn và đã chạm tới giới hạn cuối cùng. 4. Phá bỏ xiềng xích của "Lệ làng" Không chịu thua dễ dàng, ông Hòa triệu tập một buổi họp họ, mượn lời các bậc trưởng bối để gây áp lực bằng tư duy "đạo tòng phu". Người chú họ gay gắt: "Chồng làm kinh tế, vợ lo bếp núc. Cháu làm thế này là làm nhục mặt chồng, phá nát gia can!" Sự phản hồi đanh thép của Nga: Cô không cúi đầu, giọng nói bình thản: "Thưa chú, Luật Bình đẳng giới năm 2006 và Luật Hôn nhân & gia đình quy định vợ chồng có quyền ngang nhau trong mọi giao dịch dân sự. Việc cháu lên tiếng không phải để làm nhục ai, mà là để bảo vệ tài sản chung của gia đình và tương lai của các con theo đúng quy định của pháp luật." Căn phòng im phăng phắc. Những định kiến xưa cũ bỗng trở nên yếu ớt trước sức nặng của "Pháp luật". 5. Xác lập một trật tự mới Sức ép pháp lý khiến phía người mua đất hốt hoảng vì sợ giao dịch bị vô hiệu, họ buộc ông Hòa phải đối thoại với Nga. Kết quả, Nga không chỉ giữ lại được tài sản mà còn thiết lập một bản "Hiến pháp" mới cho gia đình: Minh bạch tài chính: Thỏa thuận thống nhất với chồng, Nga quay lại có một công việc cho mình. Hai vợ chồng lập tài khoản chung để chi trả sinh hoạt phí dưới sự giám sát của cả hai. Chia sẻ quyền quyết định: Mọi khoản chi tiêu lớn hoặc kế hoạch dài hạn phải được thảo luận và có sự đồng thuận của cả vợ chồng. MỘT SỐ CÂU HỎI ĐẶT RA Câu 1: Nguyên nhân chính nào khiến Nga từ một người phụ nữ nhẫn nhịn quyết định đứng lên phản kháng? Trả lời: Bước ngoặt lớn nhất là khi ông Hòa tự ý bán đi mảnh đất hồi môn của mẹ đẻ Nga – kỷ vật duy nhất của gia đình cô, đây là tài sản riêng của cô, vì tin tưởng chồng nên cô đã nhập vào tài sản chung và để chồng đứng tên trên giấy tờ. Sự việc này không chỉ là tổn thất về vật chất mà còn là sự xúc phạm nghiêm trọng đến tình cảm và quyền sở hữu của Nga đối với tài sản gia đình, khiến cô nhận ra sự nhẫn nhịn bấy lâu không mang lại tôn trọng mà chỉ mang lại sự xem thường vai trò của mình trong gia đình. Câu 2: Quan niệm sai lầm của ông Hòa về “quyền lực" trong gia đình là gì? Trả lời: Ông Hòa cho rằng ai làm ra tiền thì người đó có quyền định đoạt tất cả. Ông đánh đồng việc đứng tên trên giấy tờ tài sản chung với quyền sở hữu cá nhân và xem thường công việc nội trợ của vợ, không tôn trọng công sức đóng góp, hy sinh cho gia đình của người vợ. Câu 3: Theo câu chuyện, pháp luật Việt Nam quy định như thế nào về giá trị của công việc nội trợ? Trả lời: Theo quy định tại điểm b, Khoản 2, Điều 59 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, công việc nội trợ và duy trì đời sống gia đình được tính là lao động có thu nhập. “…b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;…”. Câu 4: Nga đã dùng những "vũ khí" pháp lý nào để đối đáp lại áp lực từ dòng họ? Trả lời: Nga đã sử dụng Luật Bình đẳng giới năm 2006 và Luật Hôn nhân và Gia đình. Cô khẳng định vợ chồng có quyền ngang nhau trong mọi giao dịch dân sự và việc cô bảo vệ tài sản là đúng quy định pháp luật để lo cho tương lai các con, thay vì chấp nhận định kiến "đạo tòng phu" lạc hậu. Câu 5: "Trật tự mới" trong gia đình Nga sau cuộc đấu tranh tự bảo vệ quyền lợi của mình bao gồm những thay đổi cụ thể nào? Trả lời: Trật tự mới dựa trên sự minh bạch và đồng thuận: Về kinh tế: Nga đi làm lại, hai vợ chồng có tài khoản chung và cùng giám sát chi tiêu. Về quyền lực: Mọi khoản chi tiêu lớn và kế hoạch dài hạn phải được thảo luận và có sự đồng thuận của cả hai bên. Câu 6: Thông điệp sâu sắc nhất mà câu chuyện muốn gửi gắm đến phụ nữ hiện đại là gì? Trả lời: Hạnh phúc thực sự không đến từ sự cam chịu hay sự tĩnh lặng nhu nhược. Sự tôn trọng trong hôn nhân chỉ bền vững khi được xây dựng trên nền tảng hiểu biết pháp luật và sự tự chủ. Phụ nữ cần nắm vững kiến thức pháp lý như một "lá chắn" để bảo vệ quyền lợi và nhân phẩm của chính mình. Lời kết: Câu chuyện của Nga là minh chứng cho việc "Pháp luật không ngủ quên trong những căn bếp". Khi người phụ nữ có kiến thức, họ không chỉ bảo vệ được tài sản mà còn giành lại được danh dự và sự bình đẳng vốn có. GÓC NHÌN PHÁP LÝ: LÁ CHẮN CHO PHỤ NỮ Qua câu chuyện của Nga, mỗi phụ nữ cần nắm vững những quy định pháp lý sau để bảo vệ vị thế của mình: Nội dung Quy định pháp luật bảo vệ Quyền quyết định Vợ và chồng có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản chung. Giá trị lao động Công việc nội trợ được coi là lao động có thu nhập, giúp phụ nữ có vị thế ngang hàng khi chia tài sản. Chống phân biệt đối xử Mọi hành vi áp đặt, bắt buộc thành viên gia đình phải làm theo ý mình một cách vô lý là vi phạm pháp luật về bình đẳng giới. * Bảng tóm tắt các quy định pháp luật trong chuyện Tình huống trong truyện Cơ sở pháp lý bảo vệ Ông Hòa tự ý bán đất chung Điều 35 Luật HN&GĐ: Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận. Ông Hòa chê Nga không làm ra tiền Điều 59 Luật HN&GĐ: Công việc nội trợ được coi là lao động có thu nhập. Ông Hòa dùng lời lẽ xúc phạm, cô lập Luật Phòng, chống bạo lực gia đình: Hành vi xúc phạm danh dự và cô lập kinh tế là bạo lực. THÔNG ĐIỆP Hạnh phúc không được xây dựng trên sự hy sinh, nhẫn nhịn, cam chịu, mà phải dựa trên sự tôn trọng. Và sự tôn trọng chỉ thực sự bền vững khi nó được bảo vệ bằng sự hiểu biết pháp luật. Đừng để tiếng nói của bạn bị dập tắt trong sự tĩnh lặng. Hãy để pháp luật trở thành ngôn từ mạnh mẽ nhất bảo vệ cuộc đời bạn! Châu Vân – phòng HCTP
15:06 14/05/2026
297
VIỆC CHUNG SỐNG NHƯ VỢ CHỒNG TRƯỚC NGÀY 03/01/1987: Có phải ly hôn khi kết hôn với người khác hay không?
Trong thực tế, nhiều trường hợp nam, nữ đã chung sống với nhau như vợ chồng từ trước năm 1987 nhưng không thực hiện đăng ký kết hôn. Khi một trong hai bên có nhu cầu kết hôn với người khác, không ít người băn khoăn liệu có phải thực hiện thủ tục ly hôn hay không?. Trường hợp của anh Triệu Văn Bằng là một ví dụ điển hình. Anh Bằng cùng chị Bùi Thanh Mai đến UBND xã Đạ Huoai 2 (tỉnh Lâm Đồng) để làm thủ tục đăng ký kết hôn. Qua xác minh tình trạng hôn nhân, cán bộ tư pháp phát hiện anh Bằng đã chung sống như vợ chồng với chị Giàng Thị Mị từ năm 1985 và có 03 người con chung, tuy nhiên chưa từng đăng ký kết hôn. Hình ảnh người dân làm TTHC tại xã Đạ Huoai 2 - Hỏi: Anh Triệu Văn Bằng chung sống như vợ chồng với chị Giàng Thị Mị trước ngày 03/01/1987 nhưng không đăng ký kết hôn thì có được công nhận là vợ chồng không? - Trả lời: Có. Theo điểm 2 Điều 44 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định: “Đối với trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng trước ngày 03 tháng 01 năm 1987 mà chưa đăng ký kết hôn thì được khuyến khích và tạo điều kiện để đăng ký kết hôn. Quan hệ hôn nhân được công nhận kể từ ngày các bên xác lập quan hệ chung sống với nhau như vợ chồng”. - Hỏi: Nếu anh Bằng muốn kết hôn với người khác thì có cần làm thủ tục ly hôn không? - Trả lời: Cần phải làm thủ tục ly hôn. Pháp luật công nhận quan hệ vợ chồng đối với trường hợp chung sống trước ngày 03/01/1987, dù không đăng ký kết hôn. Do đó, để kết hôn với người khác, người đang trong quan hệ này bắt buộc phải thực hiện thủ tục ly hôn theo quy định (theo điểm 1 Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 03/1/2001 của Bộ Tư pháp-Tòa án nhân dân tối cao-Viện Kiểm Sát nhân dân tối cao). - Hỏi: Nếu không ly hôn mà vẫn đăng ký kết hôn với người khác thì có vi phạm pháp luật không? Trường hợp chung sống với nhau sau ngày 03/1/1987 không đăng ký kết hôn thì xử lý như thế nào? - Trả lời: Nếu không ly hôn mà vẫn đăng ký kết hôn với người khác thì vi phạm chế độ một vợ một chồng. Đối với các trường hợp chung sống như vợ chồng sau thời điểm này (03/1/1987) mà không đăng ký kết hôn, thì pháp luật không công nhận là vợ chồng (quy định tại điểm 2 Thông tư liên tịch 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP). Nếu có yêu cầu ly hôn, Tòa án sẽ tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng, còn các vấn đề về con chung và tài sản sẽ giải quyết theo quy định pháp luật dân sự. Qua vụ việc trên cho thấy, việc nắm rõ các quy định pháp luật về hôn nhân và gia đình, đặc biệt là các quy định chuyển tiếp đối với quan hệ chung sống trước năm 1987, là hết sức cần thiết. Điều này không chỉ giúp người dân bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của mình trong quan hệ hôn nhân, tài sản và nuôi con mà còn tránh được những vướng mắc, rủi ro pháp lý khi xác lập quan hệ hôn nhân mới. Bài học rút ra: Đối với trường hợp nam, nữ chung sống như vợ chồng trước ngày 03/01/1987, dù không đăng ký kết hôn nhưng vẫn được pháp luật công nhận là quan hệ hôn nhân hợp pháp (hôn nhân thực tế). Vì vậy, khi muốn chấm dứt quan hệ để kết hôn với người khác, bắt buộc phải thực hiện thủ tục ly hôn theo quy định. Đăng ký kết hôn không chỉ là thủ tục hành chính mà là cơ sở pháp lý quan trọng để Nhà nước công nhận và bảo vệ quan hệ hôn nhân. Trong mọi trường hợp, khi xác lập hoặc chấm dứt quan hệ hôn nhân, người dân cần tuân thủ đúng trình tự, thủ tục theo quy định. Cán bộ cơ sở cần tăng cường tuyên truyền, giải thích rõ ràng, dễ hiểu các quy định pháp luật, nhất là những quy định chuyển tiếp liên quan đến giai đoạn trước năm 1987, để người dân nắm bắt và thực hiện đúng. Kim Oanh, Phòng HCTP
09:53 28/04/2026
3495
Trang
12345
Liên kết
Thống kê truy cập
  • Đang online: 41
  • Hôm nay: 305
  • Trong tuần: 15263
  • Trong tháng: 75932
  • Tổng truy cập: 445297