Lâm Đồng phân loại nhóm xã thực hiện xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2026–2030

15:01 10/04/2026

Thực hiện Quyết định số 51/2025/QĐ-TTg ngày 29/12/2025 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2026-2030. Trong đó, giao UBND tỉnh phân loại các nhóm xã; vừa qua, Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã ban hành Quyết định số 1416/QĐ-UBND ngày 06/4/2026, về việc phân loại nhóm xã thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2026–2030 trên địa bàn tỉnh. Theo đó, UBND tỉnh đã tiến hành phân loại 103 xã thành 03 nhóm, làm căn cứ để các địa phương xây dựng lộ trình, mục tiêu và kế hoạch triển khai thực hiện xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2026-2030 cho phù hợp với đặc thù từng vùng. Việc phân nhóm được thực hiện trên cơ sở các tiêu chí về trình độ phát triển, điều kiện địa lý và đặc điểm kinh tế - xã hội của từng địa phương, qua đó bảo đảm tính sát thực, khả thi và hiệu quả trong tổ chức thực hiện. Cụ thể các nhóm xã: Xã Nhóm 1 (04 xã): Gồm các xã như xã Tuyên Quang, Đức Trọng, Phan Rí Cửa và Cư Jút. Xã Nhóm 2 (33 xã): Bao gồm các xã như Đinh Văn Lâm Hà, Di Linh, Bảo Lâm 1, Đạ Tẻh, Đạ Huoai, Đơn Dương, Bắc Bình, Lương Sơn, Hàm Thuận Nam, Tân Minh, Hàm Tân, Đức Lập, Kiến Đức, Ka Đô, Hiệp Thạnh, Ninh Gia, Tân Hội, Hòa Ninh, Hòa Bắc, Bảo Lâm 2, Đạ Tẻh 3, Tân Hải, Vĩnh Hảo, Hòa Thắng, Hàm Thuận Bắc, Hàm Thuận, Hồng Sơn, Hàm Liêm, Hàm Kiệm, Tân Thành, Tân Lập, Sơn Mỹ, Thuận An. Xã Nhóm 3 (66 xã): Chiếm số lượng lớn nhất, đây là các xã thuộc vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số hoặc các địa bàn còn nhiều khó khăn như các xã: Lạc Dương, D'Ran, Quảng Lập, Tà HiNe, Tà Năng, Tân Hà Lâm Hà, Nam Hà Lâm Hà, Nam Ban Lâm Hà, Phúc Thọ Lâm Hà, Phú Sơn Lâm Hà, Đam Rông 1, Đam Rông 2, Đam Rông 3, Đam Rông 4, Bảo Thuận, Đinh Trang Thượng, Gia Hiệp, Sơn Điền, Bảo Lâm 3, Bảo Lâm 4, Bảo Lâm 5, Đạ Huoai 2, Đạ Huoai 3, Đạ Tẻh 2, Cát Tiên, Cát Tiên 2, Cát Tiên 3, Liên Hương, Tuy Phong, Hồng Thái, Hải Ninh, Phan Sơn, Sông Lũy, Đông Giang, La Dạ, Hàm Thạnh, Bắc Ruộng, Nghị Đức, Đồng Kho, Tánh Linh, Suối Kiết, Nam Thành, Đức Linh, Hoài Đức, Trà Tân, Đắk Wil, Nam Dong, Đắk Mil, Đắk Sắk, Nam Đà, Krông Nô, Nâm Nung, Quảng Phú, Đắk Song, Đức An, Thuận Hạnh, Trường Xuân, Tà Đùng, Quảng Khê, Quảng Tân, Tuy Đức, Nhân Cơ, Quảng Tín, Quảng Sơn, Quảng Hòa, Quảng Trực. Để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, tránh chồng chéo trong quá trình triển khai, UBND tỉnh giao Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Lâm Đồng chủ trì, phối hợp với các sở, ngành và địa phương liên quan: Rà soát, tham mưu điều chỉnh danh sách các nhóm xã khi có thay đổi theo quy định. Đồng thời, tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh giao mục tiêu đạt chuẩn cho từng nhóm xã giai đoạn 2026–2030, bảo đảm phù hợp với định hướng và chỉ tiêu Trung ương giao. Việc phân loại cụ thể ngay từ đầu giai đoạn không chỉ giúp các địa phương chủ động trong việc huy động, phân bổ nguồn lực mà còn phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế sẵn có, góp phần hoàn thành các tiêu chí về hạ tầng, kinh tế, văn hóa và môi trường. Qua đó, từng bước nâng cao chất lượng đời sống người dân khu vực nông thôn, hướng tới phát triển bền vững. Ngọc Thủy – Phòng PBGDPL

Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng tập huấn nghiệp vụ công tác hoà giải ở cơ sở tại xã Bảo Lâm 4 và xã Bảo Thuận
Thực hiện Kế hoạch số 36/KH-STP ngày 10/3/2026 của Sở Tư pháp tổ chức Hội nghị tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ và tuyên truyền phổ biến pháp luật nâng cao hiệu quả công tác hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng năm 2026, nhằm nâng cao nhận thức, kiến thức pháp luật và kỹ năng hòa giải cho đội ngũ hòa giải viên ở cơ sở. Đồng thời, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xây dựng xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng; trong thời gian 2 ngày, ngày 02 và 03/4/2026 tại UBND xã Bảo Lâm 4 và xã Bảo Thuận, Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng đã tổ chức Hội nghị tập huấn cho hơn 175 hòa giải viên cơ sở. Phát biểu khai mạc, Phó Giám đốc Sở Tư pháp – bà Phạm Thị Minh Hiếu nhấn mạnh vai trò quan trọng của công tác hòa giải trong việc giữ gìn đoàn kết, ổn định an ninh trật tự tại cộng đồng dân cư, hạn chế tranh chấp kéo dài và góp phần phát triển kinh tế xã hội tại địa phương. Tại Hội nghị các đại biểu đã được nghe các báo cáo viên cấp tỉnh trình bày 04 chuyên đề trọng tâm: (1) Những nội dung cơ bản của pháp luật về hòa giải ở cơ sở và các văn bản khác có liên quan; (2) Kiến thức pháp luật dành cho hòa giải viên liên quan đến: Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Bộ Luật dân sự năm 2015; (3) Nghiệp vụ kỹ năng hòa giải ở cơ sở: Các bước tiến hành hòa giải, kỹ năng hòa giải ở cơ sở; (4) Kiểm tra, đánh giá: Nội dung kiểm tra, đánh giá; hướng dẫn thực hiện chương trình bồi dưỡng. (Quang cảnh Hội nghị tập huấn hòa giải ở cơ sở) (Một số hình ảnh báo cáo viên cấp tỉnh trình bày tại hội nghị) Hội nghị cũng ghi nhận nhiều ý kiến trao đổi, thảo luận sôi nổi từ các hòa giải viên về những tình huống tranh chấp từ thực tiễn trong lĩnh vực dân sự, đất đai, thừa kế, hôn nhân gia đình… Các vướng mắc cụ thể đã được báo cáo viên giải đáp rõ ràng, giúp hòa giải viên nâng cao kỹ năng, kiến thức và kinh nghiệm xử lý tranh chấp, nắm vững kỹ năng nhận diện nguyên nhân mâu thuẫn để hòa giải thành công. (Hình ảnh Hòa giải viên trao đổi kinh nghiệm hòa giải tại địa phương) Hội nghị tập huấn được tổ chức nhằm nâng cao kiến thức pháp luật, trình độ chuyên môn và kỹ năng nghiệp vụ cho đội ngũ hòa giải viên ở cơ sở. Qua đó, giúp các hòa giải viên phát huy tốt vai trò, trách nhiệm của mình trong việc giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp nhỏ trong cộng đồng dân cư; đồng thời góp phần phòng ngừa, hạn chế vi phạm pháp luật, giữ vững trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Kết thúc hội nghị, các hòa giải viên và đại diện chính quyền địa phương đánh giá cao nội dung tập huấn thiết thực, sát với yêu cầu thực tiễn. Đồng thời, bày tỏ mong muốn Sở Tư pháp tiếp tục tổ chức thêm các lớp bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng hòa giải, đặc biệt trong lĩnh vực đất đai, dân sự nhằm nâng cao năng lực đội ngũ hòa giải viên, góp phần giữ gìn bình yên, phát triển kinh tế – xã hội tại địa phương. Ngọc Thủy- Phòng PBGDPL
12:24 07/04/2026
92
Bộ Tư pháp tăng cường quản lý nhà nước và giám sát hoạt động đấu giá tài sản
Ngày 27/3/2026, Bộ Tư pháp ban hành Công văn số 1919/BTP-BTTP gửi các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố về việc tăng cường quản lý nhà nước và giám sát đối với hoạt động đấu giá tài sản. Theo đánh giá của Bộ Tư pháp trong thời gian qua, các địa phương đã quan tâm chỉ đạo, tổ chức thực hiện hoạt động đấu giá tài sản, đặc biệt đối với tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản công, đạt được một số kết quả tích cực. Tuy nhiên, nhằm tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, Bộ Tư pháp đề nghị các cơ quan, địa phương tập trung thực hiện một số nội dung trọng tâm. Đối với các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố với tư cách là cơ quan quản lý người có tài sản đấu giá, cần quán triệt việc lựa chọn tổ chức hành nghề đấu giá tài sản phải căn cứ đúng tiêu chí theo quy định của pháp luật; không đặt thêm yêu cầu, điều kiện không có cơ sở pháp lý hoặc không liên quan trực tiếp đến năng lực, kinh nghiệm của tổ chức hành nghề đấu giá. Đồng thời, trong quá trình đánh giá, chấm điểm cần xem xét đầy đủ thông tin về việc chấp hành pháp luật của tổ chức hành nghề đấu giá tài sản. Khi xây dựng, ban hành phương án đấu giá, không được đặt thêm điều kiện trái quy định pháp luật đối với người tham gia đấu giá; kịp thời phát hiện, xử lý các trường hợp tổ chức hành nghề đấu giá tài sản ban hành quy chế cuộc đấu giá có nội dung không đúng quy định. Đồng thời, Bộ Tư pháp cũng yêu cầu cần tăng cường vai trò, trách nhiệm giám sát của người có tài sản đấu giá trong suốt quá trình thực hiện hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản. Việc giám sát bao gồm theo dõi việc bán và tiếp nhận hồ sơ tham gia đấu giá; cử đại diện tham gia giám sát trực tiếp phiên đấu giá, kể cả trường hợp đấu giá trực tuyến; kịp thời phát hiện, ngăn chặn các hành vi vi phạm (nếu có). Trường hợp có căn cứ về hành vi vi phạm, cần yêu cầu dừng, tạm dừng việc đấu giá theo đúng quy định. Đối với Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố với tư cách là cơ quan quản lý nhà nước về đấu giá tài sản tại địa phương, Bộ Tư pháp đề nghị tổ chức quán triệt, chỉ đạo các tổ chức hành nghề đấu giá tài sản thực hiện nghiêm quy định về trình tự, thủ tục đấu giá tài sản, nhất là đối với tài sản là quyền sử dụng đất, quyền khai thác khoáng sản. Trong quá trình tổ chức đấu giá, nếu phát hiện dấu hiệu bất thường như thông đồng, dìm giá, nâng giá thì kịp thời báo cáo để xem xét, xử lý theo quy định. Sở Tư pháp có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan liên quan tăng cường thanh tra, kiểm tra hoạt động đấu giá tài sản; kịp thời phát hiện, xử lý hoặc kiến nghị xử lý các hành vi vi phạm theo thẩm quyền. Việc triển khai nghiêm túc chỉ đạo của Bộ Tư pháp sẽ góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, bảo đảm tính công khai, minh bạch trong hoạt động đấu giá tài sản, phòng ngừa tiêu cực, thất thoát tài sản nhà nước. Văn Phú - Phòng BTTP
10:01 06/04/2026
141
Tăng cường công tác đăng ký hộ tịch trên địa bàn tỉnh lâm đồng – bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người dân
Để đảm bảo công tác đăng ký và quản lý hộ tịch trên địa bàn tỉnh được thực hiện đầy đủ, chặt chẽ, đồng thời góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, đặc biệt là các quyền cơ bản như đăng ký khai sinh, kết hôn, khai tử, ngày 26/3/2026, Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng đã ban hành Công văn số 835/STP-HCTP đề nghị Ủy ban nhân dân các xã, phường, đặc khu (UBND cấp xã) căn cứ quy định của pháp luật và tình hình thực tiễn tại địa phương triển khai, tổ chức thực hiện rà soát và đăng ký hộ tịch cho người dân cư trú trên địa bàn quản lý. Đối với việc đăng ký khai sinh cho trẻ em: UBND cấp xã cần tập trung chỉ đạo công chức tư pháp - hộ tịch phối hợp chặt chẽ với cơ quan công an thường xuyên rà soát, đánh giá tình hình đăng ký khai sinh cho trẻ em trên địa bàn, đảm bảo mọi trẻ em đều được đăng ký khai sinh kịp thời. Đối với các trường hợp chưa xác định được nơi cư trú của cha, mẹ trẻ, cần chủ động phối hợp xác minh; nếu cha, mẹ không có nơi thường trú, tạm trú thì thực hiện đăng ký khai sinh tại nơi thực tế đang sinh sống; trường hợp có nơi cư trú khác, cần hướng dẫn, hỗ trợ thực hiện đúng thẩm quyền. Đồng thời, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động gia đình, cha mẹ thực hiện đăng ký khai sinh cho trẻ đúng quy định. Căn cứ điều kiện thực tế, địa phương có thể tổ chức đăng ký khai sinh lưu động theo quy định tại Điều 24 Thông tư số 04/2020/TT-BTP, nhất là đối với các trường hợp gặp khó khăn về kinh tế, đi lại như đau ốm, sinh sống ở vùng sâu, vùng xa, trong rẫy, trong rừng. Đối với trẻ em thuộc diện di cư tự do, gia đình không ổn định, cần tăng cường theo dõi, rà soát, phối hợp thu thập thông tin, xác minh nhân thân và quá trình cư trú để tạo điều kiện thuận lợi cho việc đăng ký khai sinh và các thủ tục hộ tịch liên quan. Hình ảnh đăng ký kết hôn tại phường Nam Gia Nghĩa, tỉnh Lâm Đồng Đối với việc đăng ký kết hôn: UBND cấp xã cần triển khai rà soát, thống kê các trường hợp nam, nữ chung sống như vợ chồng nhưng chưa đăng ký kết hôn để vận động, hướng dẫn thực hiện đăng ký kết hôn đối với những trường hợp đủ điều kiện. Đối với các trường hợp cư trú qua nhiều nơi, cơ quan đăng ký hộ tịch cần tra cứu thông tin trên hệ thống, phối hợp xác minh tại các địa phương liên quan; trường hợp không thể xác minh thì cho phép công dân cam đoan về tình trạng hôn nhân, đồng thời giải thích rõ trách nhiệm pháp lý của việc cam đoan. Lưu ý trong quá trình thực hiện cần phân biệt rõ các trường hợp đăng ký kết hôn đối với những cặp chung sống trước ngày 03/01/1987 và đăng ký lại kết hôn để xác định thời điểm xác lập quan hệ hôn nhân. Đối với các trường hợp chung sống như vợ chồng mà chưa đủ tuổi kết hôn , cần kịp thời phát hiện, tuyên truyền, vận động và phối hợp gia đình ngăn chặn, xử lý theo quy định nếu có dấu hiệu vi phạm pháp luật về tảo hôn. Đặc biệt, đối với các trường hợp đã có con, cần chú trọng bảo đảm quyền lợi của trẻ em, nhất là quyền được đăng ký khai sinh, tạo điều kiện để trẻ được tiếp cận các quyền cơ bản về y tế, giáo dục và an sinh xã hội. Đối với công tác đăng ký khai tử: UBND cấp xã cần phối hợp rà soát, thống kê các trường hợp công dân đã chết nhưng chưa đăng ký khai tử để thực hiện đăng ký theo quy định. Trường hợp chết đã lâu, cần thu thập, kiểm tra, xác minh các giấy tờ, tài liệu chứng minh sự kiện chết do cơ quan có thẩm quyền cấp hoặc xác nhận hợp lệ; trong trường hợp chỉ có các giấy tờ như gia phả, giấy tờ tùy thân, ảnh mộ, hoặc xác nhận của người làm chứng, cơ quan đăng ký hộ tịch cần xác minh chặt chẽ, lập biên bản để làm cơ sở giải quyết. Đối với trường hợp công dân Việt Nam chết ở nước ngoài nhưng chưa đăng ký khai tử tại cơ quan có thẩm quyền ở nước ngoài, khi gia đình đưa thi hài hoặc tro cốt về Việt Nam và có yêu cầu đăng ký khai tử trong nước, UBND cấp xã nơi cư trú cuối cùng của người chết cần vận dụng quy định của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP để giải quyết. Người đi đăng ký phải có cam kết chưa đăng ký khai tử ở nơi khác và chịu trách nhiệm về nội dung cam đoan; các giấy tờ như giấy chứng nhận kiểm dịch y tế đối với thi hài, hài cốt, tro cốt được sử dụng thay thế giấy báo tử để xác định các thông tin liên quan. Việc tăng cường công tác rà soát và đăng ký hộ tịch không chỉ góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước mà còn đảm bảo tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân, hướng tới xây dựng nền hành chính phục vụ, vì nhân dân. Chu Nga – Phòng HCTP
11:07 30/03/2026
78
Lâm Đồng công bố danh mục và quy trình nội bộ giải quyết thủ tục hành chính trong lĩnh vực thừa phát lại
Ngày 23/3/2026, Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã ban hành Quyết định về việc công bố Danh mục và quy trình nội bộ giải quyết thủ tục hành chính trong lĩnh vực thừa phát lại thuộc phạm vi chức năng quản lý của Sở Tư pháp tỉnh. Quyết định công bố kèm theo danh mục thủ tục hành chính và quy trình nội bộ nhằm chuẩn hóa, thống nhất việc tiếp nhận, giải quyết hồ sơ trong lĩnh vực thừa phát lại; góp phần nâng cao hiệu quả cải cách thủ tục hành chính, tăng cường tính công khai, minh bạch và tạo thuận lợi cho tổ chức, cá nhân khi thực hiện thủ tục. Công chức thực hiện tiếp nhận hồ sơ giải quyết TTHC cho người dân Danh mục thủ tục hành chính được công bố gồm 17 thủ tục thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp tỉnh, tập trung vào các nhóm nội dung như: công nhận tương đương đào tạo nghề thừa phát lại ở nước ngoài; bổ nhiệm, miễn nhiệm, bổ nhiệm lại thừa phát lại; đăng ký tập sự hành nghề; cấp, cấp lại thẻ thừa phát lại; thành lập, đăng ký hoạt động, thay đổi nội dung hoạt động của Văn phòng Thừa phát lại; hợp nhất, sáp nhập, chuyển nhượng Văn phòng Thừa phát lại… Các thủ tục hành chính được thực hiện tại Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh Lâm Đồng, với thời gian giải quyết được quy định cụ thể theo từng thủ tục, dao động từ 02 ngày đến 20 ngày làm việc tùy nội dung. Một số thủ tục có quy định về phí, lệ phí theo quy định hiện hành. Việc ban hành Quyết định là cơ sở quan trọng để các cơ quan, đơn vị, địa phương tổ chức thực hiện đồng bộ, hiệu quả công tác giải quyết thủ tục hành chính trong lĩnh vực thừa phát lại trên địa bàn tỉnh; đồng thời góp phần nâng cao chất lượng phục vụ người dân và doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính trong giai đoạn hiện nay. Trong thời gian tới, Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng sẽ tiếp tục phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức triển khai, niêm yết, cập nhật đầy đủ nội dung thủ tục hành chính trên Cổng Dịch vụ công Quốc gia, bảo đảm thống nhất, đồng bộ và đúng quy định. Trần Thanh Bình, Sở Tư pháp
11:01 30/03/2026
76
Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng tích cực, chủ động trong giải quyết thủ tục hành chính về quốc tịch cho người dân
Kể từ khi Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2025 (Luật số 79/2025/QH15) chính thức có hiệu lực từ ngày 01/7/2025, nhiều quy định mới được sửa đổi, bổ sung, thay thế theo hướng quy định thông thoáng hơn, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người dân trong việc xác lập, thay đổi và xác nhận quốc tịch đã đi vào cuộc sống. Những chính sách mới không chỉ thể hiện tính nhân văn mà còn góp phần tháo gỡ các vướng mắc tồn tại trong thực tiễn nhiều năm qua. Ghi nhận tại Bộ phận tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả của Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng, số lượng người dân đến liên hệ thực hiện thủ tục hành chính về quốc tịch tăng đáng kể so với trước đây. Trong đó, phổ biến nhất là thủ tục xin cấp Giấy xác nhận có quốc tịch Việt Nam – một loại giấy tờ quan trọng để thực hiện các quyền, nghĩa vụ dân sự của công dân. Tuy nhiên, thực tế phát sinh cho thấy không ít trường hợp người dân còn nhầm lẫn, dẫn đến việc nộp hồ sơ không đúng nơi có thẩm quyền, trong đó có việc gửi hồ sơ về Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng dù không cư trú tại địa phương. Điều này không chỉ làm kéo dài thời gian nộp hồ sơ của người dân mà còn gây phát sinh việc xử lý hồ sơ tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả. Người dân đến liên hệ thực hiện thủ tục hành chính về quốc tịch tại Bộ phận một cửa Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng Liên quan đến việc nộp hồ sơ, pháp luật quốc tịch cũng đã có những quy định cụ thể về cách thức và địa điểm nộp hồ sơ theo đúng thẩm quyền như sau: Khoản 1 Điều 5 Nghị định số 191/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 của Chính phủ quy định: “1. Người xin trở lại, xin thôi quốc tịch Việt Nam hoặc giải quyết các việc khác về quốc tịch có thể nộp hồ sơ trực tuyến, trực tiếp hoặc gửi hồ sơ qua dịch vụ bưu chính đến cơ quan có thẩm quyền thụ lý hồ sơ theo quy định của Luật Quốc tịch Việt Nam và Nghị định này, không ủy quyền cho người khác nộp hồ sơ… Người xin nhập quốc tịch Việt Nam phải trực tiếp nộp hồ sơ tại Sở Tư pháp hoặc cơ quan đại diện, nơi người đó cư trú,…” Khoản 1 Điều 25, Điều 29 Luật Quốc tịch 2025 quy định: “1. Người xin trở lại/thôi quốc tịch Việt Nam nếu cư trú ở trong nước thì nộp hồ sơ cho Sở Tư pháp nơi cư trú, nếu cư trú ở nước ngoài thì nộp hồ sơ cho cơ quan đại diện Việt Nam ở nước sở tại…” Điều 29, Điều 31 Nghị định số 191/2025/NĐ-CP quy định về thẩm quyền cấp Giấy xác nhận có quốc tịch Việt Nam/Giấy xác nhận là người gốc Việt Nam: “Sở Tư pháp hoặc cơ quan đại diện, nơi người yêu cầu cấp Giấy xác nhận có quốc tịch Việt Nam/Giấy xác nhận là người gốc Việt Nam cư trú vào thời điểm nộp hồ sơ có thẩm quyền cấp Giấy xác nhận có quốc tịch Việt Nam.” Từ các quy định của pháp luật nêu trên, người có yêu cầu nộp hồ sơ xin cấp Giấy xác nhận có quốc tịch Việt Nam, xin gia nhập quốc tịch Việt Nam… không được ủy quyền cho người khác thực hiện. Đồng thời, việc nộp hồ sơ phải đúng thẩm quyền theo nơi cư trú, cụ thể là cư trú tại tỉnh, thành phố nào thì nộp tại Sở Tư pháp của địa phương đó hoặc nếu cư trú tại nước ngoài thì nộp hồ sơ tại cơ quan đại diện ở nước ngoài,… Để đảm bảo việc tiếp nhận hồ sơ đúng quy định, đúng thẩm quyền, khi nộp hồ sơ, người dân cần xuất trình Phiếu xác nhận thông tin về cư trú hoặc giấy tờ hợp lệ chứng minh nơi cư trú hiện tại. Đây là căn cứ quan trọng để cơ quan có thẩm quyền xem xét, tiếp nhận và giải quyết hồ sơ theo đúng quy định của pháp luật. Trong bối cảnh số lượng hồ sơ xin cấp Giấy xác nhận có quốc tịch Việt Nam, xin gia nhập quốc tịch Việt Nam…gia tăng kể từ khi Luật mới có hiệu lực, đồng thời gắn với quá trình sắp xếp đơn vị hành chính, Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng đã và đang chủ động, tích cực triển khai nhiều giải pháp cũng như đẩy mạnh việc phối hợp xác minh nhân thân của người yêu cầu để việc cấp giấy xác nhận quốc tịch hay bất cứ thủ tục khác có liên quan đến quốc tịch cho người dân kịp thời, đúng quy định pháp luật. Thời gian tới, Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng sẽ tiếp tục nâng cao chất lượng phục vụ, tăng cường hướng dẫn, tuyên truyền để người dân hiểu đúng, thực hiện đúng quy định pháp luật về quốc tịch, qua đó góp phần xây dựng nền hành chính phục vụ, chuyên nghiệp, hiệu quả. Thúy Hà, Phòng HCTP
14:58 27/03/2026
85
Chính phủ ban hành quy định tăng mức xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực biên giới quốc gia
Ngày 18/03/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 79/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia. Theo đó, Nghị định ban hành tăng mức xử phạt và bổ sung thêm một số hành vi vi phạm hành chính. Cụ thể: Hành vi vi phạm các quy định về quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia, mốc quốc giới, dấu hiệu đường biên giới (Điều 8): Bổ sung hành vi “không có phương án phòng, chống cạn kiệt nguồn nước, gây ngập úng khi xây dựng các công trình trên sông, suối biên giới” với mức phạt tiền từ 30 – 50 triệu đồng Đối với hành vi vi phạm quy chế khu vực biên giới đất liền (Điều 9): Nâng mức phạt tiền lên từ 500.000 đồng - 1 triệu đồng đối với hành vi tạm trú, lưu trú, đi lại trong khu vực biên giới đất liền không đúng quy định; Không thông báo, khai báo, đăng ký với cơ quan, người có thẩm quyền về việc lưu trú, tạm trú trong khu vực biên giới đất liền hoặc che giấu, giúp đỡ người khác đi lại, lưu trú, tạm trú trái phép trong khu vực biên giới đất liền (Mức phạt cũ từ 300.000 – 500.000 đồng). Đồng thời, tăng mức xử phạt đối với cư dân biên giới có hành vi “cho người khác sử dụng giấy tờ có giá trị xuất, nhập cảnh biên giới để qua lại biên giới” mức phạt 3 triệu – 5 triệu đồng (Mức phạt cũ 1 – 3 triệu đồng). Đồn Biên phòng Nậm Na thuộc tỉnh Lâm Đồng thực hiện nhiệm tuần tra khu vực giáp biên giới với nước bạn Camphuchia Đối với hành vi vi phạm quy chế quản lý cửa khẩu biên giới đất liền (Điều 10): Tăng mức xử phạt đối với hành vi tạm trú, lưu trú, đi lại trong khu vực cửa khẩu biên giới đất liền không đúng quy định lên 500.000 – 1 triệu đồng (Mức phạt cũ chỉ 300.000 đồng – 500.000 đồng). Hành vi vi phạm về quản lý hoạt động của người, phương tiện trong khu vực biên giới biển (Điều 11): Tăng mức phạt lên từ 500.000 đồng - 1 triệu đồng đối với các hành vi: Tạm trú, lưu trú, đi lại trong khu vực biên giới biển không đúng quy định; Không khai báo với cơ quan, người có thẩm quyền về việc lưu trú, tạm trú trong khu vực biên giới biển hoặc che giấu, giúp đỡ người khác đi lại, tạm trú, lưu trú trái phép trong khu vực biên giới biển (Mức phạt cũ từ 300.000 – 500.000 đồng). Hành vi vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới ngoài khu vực cửa khẩu (Điều 15): Bổ sung việc phạt tiền từ 40 – 75 triệu đồng đối với cá nhân, tổ chức đã bị xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi quy định tại khoản 1, điểm a khoản 2, khoản 3 Điều này mà còn tái phạm nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Mức phạt tiền đến 75 triệu đồng đối với cá nhân, tổ chức bị phạt gấp 2 lần cá nhân. Ngoài phạt tiền, đối tượng vi phạm có thể bị áp dụng thêm các hình thức phạt bổ sung và khắc phục hậu quả đối với từng hành vi vi phạm như: tịch thu, tước giấy phép, trục xuất, khôi phục hiện trạng. Nghị định ban hành có ý nghĩa rất quan trọng trong quản lý nhà nước, không chỉ dừng ở xử lý hành vi vi phạm mà còn góp phần bảo vệ chủ quyền, an ninh quốc gia và trật tự xã hội tại khu vực biên giới. Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 02 tháng 5 năm 2026 và thay thế Nghị định số 96/2020/NĐ-CP ngày 24 tháng 8 năm 2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 37/2022/NĐ-CP ngày 06 tháng 6 năm 2022 của Chính phủ./. Minh Hiền (Phòng QLXLVPHC & TDTHPL)
10:04 27/03/2026
110
Những điểm mới nổi bật của nghị định số 65/2026/NĐ-CP về quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản
Vừa qua, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 65/2026/NĐ-CP ngày 28/02/2026 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phục hồi, phá sản về Quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản. Đây là văn bản quy phạm pháp luật quan trọng nhằm hoàn thiện khung pháp lý cho hoạt động hành nghề của Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản; góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước liên quan đến hoạt động hành nghề quản lý, thanh lý tài sản. Tọa đàm lấy ý kiến về dự thảo Nghị định Sau đây là một số nội dung mới nổi bật của Nghị định số 65/2026/NĐ-CP: Quy định về tiêu chuẩn, điều kiện cấp chứng chỉ hành nghề Quản tài viên (Điều 5) Các đối tượng được cấp Chứng chỉ hành nghề Quản tài viên bao gồm: Luật sư; Kiểm toán viên; Người có trình độ cử nhân luật, kinh tế, kế toán, tài chính, ngân hàng và có ít nhất 05 năm kinh nghiệm công tác trong lĩnh vực được đào tạo. Điểm mới là yêu cầu bắt buộc phải hoàn thành khóa bồi dưỡng nghề Quản tài viên trước khi được cấp chứng chỉ, nhằm đảm bảo tính chuyên môn đặc thù trong lĩnh vực hành nghề quản lý, thanh lý tài sản. Quy định về hình thức hành nghề của Quản tài viên (Điều 12) Theo đó, Quản tài viên có quyền lựa chọn một trong hai hình thức hành nghề: Hành nghề với tư cách cá nhân và phải thực hiện đăng ký tại Sở Tư pháp nơi người đó muốn hành nghề. Hành nghề trong doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản thông qua việc thành lập hoặc tham gia thành lập hoặc làm việc theo hợp đồng cho doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản (được tổ chức dưới loại hình Công ty hợp danh hoặc Doanh nghiệp tư nhân theo quy định). Quy định này tạo điều kiện linh hoạt cho Quản tài viên trong việc lựa chọn mô hình hành nghề phù hợp với năng lực và điều kiện thực tế. Quy định nghĩa vụ bồi dưỡng nghiệp vụ Quản tài viên hằng năm (Điều 15) Để cập nhật kiến thức pháp luật và kỹ năng xử lý tài sản, Nghị định quy định Quản tài viên phải tham gia bồi dưỡng nghiệp vụ hằng năm với thời gian tối thiểu là 01 ngày làm việc (08 giờ/năm). Quản tài viên được tính là hoàn thành nghĩa vụ tham gia bồi dưỡng nghiệp vụ Quản tài viên trong năm nếu thuộc một trong các trường hợp: là thành viên Tổ soạn thảo, Hội đồng thẩm định văn bản quy phạm pháp luật về phục hồi, phá sản hoặc quản lý, thanh lý tài sản; Tham gia giảng dạy, làm báo cáo viên trong các chương trình tập huấn, hội thảo, tọa đàm, tham gia tuyên truyền, phổ biến pháp luật trên các phương tiện thông tin đại chúng về phục hồi, phá sản hoặc quản lý, thanh lý tài sản; Tham gia Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ trở lên về phục hồi, phá sản hoặc quản lý, thanh lý tài sản. Việc tuân thủ nghĩa vụ bồi dưỡng không chỉ là trách nhiệm pháp lý mà còn là điều kiện để duy trì tư cách hành nghề, góp phần xây dựng đội ngũ Quản tài viên chuyên nghiệp, đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Quy định về chi phí cho Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản (Điều 21) Chi phí Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản bao gồm thù lao Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản và chi phí khác. Chi phí Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản được thanh toán từ giá trị tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc do ngân sách nhà nước bảo đảm theo quy định của Luật Phục hồi, phá sản. Cơ chế xác định chi phí cho người hành nghề đã được cụ thể hóa tại Nghị định số 65/2026/NĐ-CP, nhằm đảm bảo quyền lợi tương xứng với trách nhiệm. Thù lao của Quản tài viên hiện nay được tính linh hoạt dựa trên thời gian làm việc, mức trọn gói hoặc tỷ lệ phần trăm tổng giá trị tài sản thu hồi được. Đáng chú ý, biểu phí phần trăm được quy định rất chi tiết, dao động từ 10% đối với tài sản dưới 100 triệu đồng đến mức thù lao tính theo bậc cho các tài sản trị giá trên 50 tỷ đồng. Để bảo vệ quyền lợi tối thiểu, pháp luật đảm bảo mức thù lao không thấp hơn 1,5 tháng lương cho mỗi tháng tham gia vụ việc. Bên cạnh đó, nhằm hỗ trợ nguồn lực hoạt động, Thẩm phán sẽ quyết định mức tạm ứng chi phí với mức tối thiểu không thấp hơn 10 tháng lương. Toàn bộ thù lao và các chi phí hợp lý khác như đi lại, lưu trú, thuê nhân sự hỗ trợ sẽ được ưu tiên thanh toán từ giá trị tài sản của doanh nghiệp, giúp Quản tài viên an tâm thực hiện nhiệm vụ quản lý và giám sát tài sản một cách khách quan, hiệu quả. Quy định này nhằm bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người hành nghề tương xứng với khối lượng, tính chất công việc; đồng thời tăng cường tính minh bạch trong quá trình giải quyết phá sản. Việc ban hành Nghị định số 65/2026/NĐ-CP được kỳ vọng sẽ tạo hành lang pháp lý đồng bộ, minh bạch cho hoạt động hành nghề của Quản tài viên; góp phần nâng cao hiệu quả giải quyết phá sản, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan./. Mỹ Oanh - Phòng Bổ trợ tư pháp
08:33 27/03/2026
183
Pháp luật và đời sống biên bản bị bỏ quên
16:02 26/03/2026
72
Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng chỉ đạo chấn chỉnh hoạt động khám chữa bệnh
16:50 25/03/2026
87
Các trường hợp được hoãn thi hành án dân sự
Hiện nay, pháp luật chưa có quy định cụ thể về khái niệm “hoãn thi hành án dân sự. Tuy nhiên, có thể hiểu, hoãn thi hành án dân sự là việc chuyển thời điểm đã định thi hành bản án hoặc quyết định của Tòa án sang thời điểm khác muộn hơn. Vậy, những trường hợp nào thì được hoãn thi hành án dân sự? Theo quy định tại khoản 1 Điều 46 Luật Thi hành án dân sự năm 2025 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2026) thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định hoãn một phần hoặc toàn bộ việc thi hành án trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày có một trong các căn cứ sau đây: - Nghĩa vụ gắn liền với nhân thân của người phải thi hành án hoặc pháp luật quy định nghĩa vụ không được chuyển giao mà người phải thi hành án bị bệnh hiểm nghèo, có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp cơ bản trở lên theo quy định của pháp luật. - Nghĩa vụ gắn liền với nhân thân của người phải thi hành án hoặc pháp luật quy định nghĩa vụ không được chuyển giao mà chưa xác định được địa chỉ của người phải thi hành án. - Đương sự thỏa thuận bằng văn bản về việc hoãn thi hành án hoặc người được thi hành án có văn bản đề nghị hoãn thi hành án, trừ trường hợp yêu cầu hoãn thi hành án làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba; trong thời gian hoãn thi hành án thì người phải thi hành án không phải chịu lãi chậm thi hành án, trừ trường hợp đương sự có thỏa thuận khác. - Nhận được thông báo thụ lý của Tòa án về việc giải quyết yêu cầu xác định, phân chia, giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất, trừ trường hợp tài sản đó đã được bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật tuyên kê biên, xử lý, công nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc trường hợp người phải thi hành án có tài sản, thu nhập khác để thi hành án. - Nhận được thông báo thụ lý của Tòa án về việc giải quyết yêu cầu hủy kết quả đấu giá, yêu cầu hủy hợp đồng mua bán tài sản đấu giá hoặc giải quyết tranh chấp về hợp đồng mua bán tài sản đấu giá. - Nhận được quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế đối với tài sản thi hành án của cơ quan tiến hành tố tụng để phục vụ điều tra, truy tố, xét xử, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. - Đang trong thời hạn cơ quan có thẩm quyền sửa chữa, bổ sung, giải thích bản án, quyết định hoặc đang thực hiện tương trợ tư pháp về dân sự theo quy định của pháp luật. - Đang trong thời hạn cơ quan có thẩm quyền trả lời kiến nghị của cơ quan thi hành án dân sự về việc xem xét lại bản án, quyết định theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm. - Người được nhận tài sản, người được giao nuôi dưỡng đã được thông báo hợp lệ 02 lần về việc nhận tài sản, nhận người được nuôi dưỡng nhưng không đến nhận. - Việc chuyển giao quyền và nghĩa vụ thi hành án theo quy định của pháp luật chưa thực hiện được vì tình trạng khẩn cấp, trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng. - Nhận được thông báo thụ lý của Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền về việc giải quyết đề nghị xem xét lại quyết định công nhận kết quả hòa giải thành hoặc hủy phán quyết, quyết định sau: Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, Hội đồng xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh, quyết định giải quyết khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, Hội đồng giải quyết khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh có liên quan đến tài sản của bên phải thi hành theo quy định của Luật Cạnh tranh; Phán quyết trọng tài, quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Hội đồng trọng tài theo quy định của Luật Trọng tài thương mại; Quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng bồi thường thiệt hại của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân theo quy định của Luật Tư pháp người chưa thành niên; Bản án, quyết định khác được thi hành theo quy định của pháp luật). Việc nắm vững các quy định về hoãn thi hành án dân sự không chỉ giúp các đương sự chủ động trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình mà còn góp phần đảm bảo tính nhân văn, khách quan trong quá trình thực thi pháp luật. Một hệ thống thi hành án nói chung và thi hành án dân sự nói riêng minh bạch và đúng quy trình chính là nền tảng để bảo vệ trật tự kỷ cương xã hội và niềm tin của nhân dân vào công lý. Hoàng Oanh
16:36 25/03/2026
162
Liên kết
Thống kê truy cập
  • Đang online: 31
  • Hôm nay: 1109
  • Trong tuần: 11843
  • Trong tháng: 37818
  • Tổng truy cập: 84239