Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã tạo hành lang pháp lý quan trọng để điều chỉnh các quan hệ hôn nhân – gia đình theo hướng văn minh, tiến bộ, phù hợp với các nguyên tắc về quyền con người, bình đẳng giới và giá trị gia đình truyền thống. Nguyên tắc “một vợ, một chồng”, tự do lựa chọn kết hôn trên nền bình đẳng, không bị ép buộc, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, niềm tin được quy định rõ ràng, minh bạch, qua đó hạn chế tình trạng tảo hôn, cưỡng ép hôn nhân, đa thê. Gia đình được bảo vệ như tế bào của xã hội góp phần duy trì ổn định chính trị và trật tự xã hội. Tạo cơ chế bảo vệ quyền lợi phụ nữ, phòng chống bạo lực gia đình, cưỡng ép hôn nhân.
Quy định về quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài đã có những chuyển biến tích cực, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước thông qua công tác đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài. Quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài được tôn trọng, bảo vệ phù hợp với chính sách đối ngoại của Nhà nước và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, ngày càng có nhiều công dân Việt Nam, đặc biệt là phụ nữ kết hôn với người nước ngoài. Điều này phát sinh các vấn đề về xác định luật áp dụng, thẩm quyền giải quyết của Tòa án, việc công nhận hôn nhân được xác lập ở nước ngoài trong trường hợp vi phạm chế độ hôn nhân theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Một số quốc gia trên thế giới, công nhận chế độ đa thê, nam giới có thể kết hôn đồng thời với nhiều hơn một phụ nữ, khác với nguyên tắc “một vợ, một chồng” theo quy định của pháp luật Việt Nam. Đây là vấn đề cần lưu ý, phụ nữ Việt Nam sẽ không thực hiện được thủ tục công nhận hôn nhân được xác lập ở nước ngoài tại Việt Nam vì vi phạm chế độ hôn nhân theo pháp luật Việt Nam, cụ thể là Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Trước đây, khoản 1 Điều 36 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định cơ quan có thẩm quyền có thể xem xét công nhận việc kết hôn đã được xác lập ở nước ngoài trong trường hợp hậu quả của việc vi phạm điều kiện kết hôn đã được khắc phục hoặc việc công nhận nhằm bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ và trẻ em. Tuy nhiên, quy định này đã hết hiệu lực kể từ ngày 01/01/2016. Hiện nay, theo khoản 1 Điều 34 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP của Chính phủ, việc ghi vào Sổ hộ tịch đối với kết hôn đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài chỉ được thực hiện khi việc kết hôn đó không vi phạm điều cấm của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Do đó, các trường hợp kết hôn vi phạm nguyên tắc một vợ, một chồng sẽ không được ghi vào Sổ hộ tịch tại Việt Nam, mặc dù việc kết hôn có thể được pháp luật nước ngoài công nhận.

Việc không được ghi nhận quan hệ hôn nhân tại Việt Nam có thể dẫn đến nhiều hệ quả pháp lý đối với công dân Việt Nam, đặc biệt là phụ nữ. Trong thực tế, người trong cuộc có thể gặp khó khăn khi thực hiện các thủ tục liên quan đến xác nhận tình trạng hôn nhân, giải quyết ly hôn, phân chia tài sản, thừa kế, bảo lãnh cư trú hoặc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp tại Việt Nam. Đây là những vấn đề có thể ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ trong quan hệ hôn nhân.
Cũng cần lưu ý rằng, không phải mọi trường hợp kết hôn với công dân của quốc gia cho phép chế độ đa thê đều không được Việt Nam công nhận. Nếu tại thời điểm đăng ký kết hôn, người nước ngoài chỉ có một vợ và việc kết hôn đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật Việt Nam thì vẫn có thể được thực hiện thủ tục ghi vào Sổ hộ tịch theo quy định.

Để tránh các rủi ro về mặt pháp lý, phụ nữ Việt Nam khi có ý định kết hôn với người nước ngoài nên chủ động tìm hiểu tình trạng hôn nhân của người dự định kết hôn, đồng thời nghiên cứu kỹ quy định pháp luật của cả Việt Nam và quốc gia nơi đăng ký kết hôn. Việc chuẩn bị đầy đủ thông tin trước khi xác lập quan hệ hôn nhân sẽ góp phần bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của bản thân người phụ nữ và hạn chế những vi phạm, tranh chấp, vướng mắc có thể phát sinh.
Hoàng Lê Huân – Sở Tư pháp Lâm Đồng