Tình huống thực tiễn tại xã Hàm Liêm - Nghệ thuật kết hợp thấu tình và Đạt lý
Tải PDF
16:56 21/05/2026
40
Tình huống tranh chấp Huê Hụi - dựa trên tình huống thực tế tại phường 2, Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng
Tải PDF
16:54 21/05/2026
43
Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng tổ chức Hội nghị tập huấn công tác hòa giải ở cơ sở tại Đặc khu Phú Quý
Thực hiện Kế hoạch số 36/KH-STP ngày 10/3/2026 của Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng về công tác hòa giải ở cơ sở năm 2026, ngày 18/5/2026, Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng phối hợp với UBND Đặc khu Phú Quý tổ chức Hội nghị tập huấn, bồi dưỡng kiến thức pháp luật và nghiệp vụ hòa giải ở cơ sở cho đội ngũ cán bộ, công chức và hòa giải viên trên địa bàn. Tham dự và chỉ đạo hội nghị có bà Phạm Thị Minh Hiếu, Phó Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng. Bà Phạm Thị Minh Hiếu – Phó Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng phát biểu khai mạc hội nghị Phát biểu khai mạc, bà nhấn mạnh vai trò quan trọng của công tác hòa giải ở cơ sở trong việc giải quyết kịp thời các mâu thuẫn, tranh chấp phát sinh trong cộng đồng dân cư, góp phần giữ gìn an ninh, trật tự, ổn định xã hội và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đồng thời, bà đề nghị đội ngũ hòa giải viên tiếp tục nâng cao kiến thức pháp luật, rèn luyện kỹ năng nghiệp vụ, phát huy tinh thần trách nhiệm, sự công tâm, khách quan và linh hoạt trong quá trình hòa giải, phấn đấu nâng cao tỷ lệ hòa giải thành tại địa phương. Quang cảnh Hội nghị tập huấn hòa giải ở cơ sở Hội nghị được tổ chức tại Hội trường UBND Đặc khu Phú Quý với sự tham dự của gần 100 đại biểu, gồm đại diện lãnh đạo UBND đặc khu; công chức tư pháp – hộ tịch; đại diện các ban, ngành, đoàn thể; tuyên truyền viên pháp luật và đội ngũ hòa giải viên ở cơ sở. Một số hình ảnh tại Hội nghị Tại hội nghị, báo cáo viên pháp luật của Sở Tư pháp đã triển khai 04 chuyên đề trọng tâm theo Chương trình khung bồi dưỡng của Bộ Tư pháp, gồm: (1) những kiến thức chung về hòa giải ở cơ sở; (2) các quy định pháp luật liên quan trực tiếp đến hoạt động hòa giải như pháp luật về hôn nhân và gia đình, dân sự, hình sự, hộ tịch; (3) kỹ năng, nghiệp vụ hòa giải ở cơ sở; (4) trao đổi, kiểm tra, đánh giá kết quả tiếp thu. Nội dung tập huấn được xây dựng sát với thực tiễn, tập trung vào các tình huống thường gặp như tranh chấp đất đai, mâu thuẫn gia đình, xích mích trong cộng đồng dân cư. Qua đó, giúp các hòa giải viên nâng cao kỹ năng lắng nghe, phân tích, vận dụng đúng quy định pháp luật để giải quyết vụ việc bảo đảm thấu tình, đạt lý. Báo cáo viên cấp tỉnh trình bày tại hội nghị Trong khuôn khổ hội nghị, các đại biểu đã tích cực trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn, giới thiệu những mô hình hay, cách làm hiệu quả trong công tác hòa giải ở cơ sở. Đây là dịp quan trọng để nâng cao năng lực, kỹ năng cho đội ngũ hòa giải viên, góp phần xây dựng môi trường sống hài hòa, đoàn kết trong cộng đồng dân cư. Các hòa giải viên tích cực trao đổi, thảo luận các tình huống thực tiễn trong công tác hòa giải ở cơ sở Thông qua hội nghị, kiến thức pháp luật và kỹ năng nghiệp vụ của đội ngũ hòa giải viên tiếp tục được củng cố, góp phần nâng cao tỷ lệ hòa giải thành, phấn đấu đạt từ 85% trở lên theo kế hoạch đề ra. Đồng thời, hoạt động này góp phần giữ gìn tình làng, nghĩa xóm, phát huy truyền thống đoàn kết, tương thân tương ái trong cộng đồng, hạn chế phát sinh tranh chấp, vi phạm pháp luật, bảo đảm an ninh, trật tự tại địa phương. Trong thời gian tới, Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng sẽ tiếp tục tăng cường hướng dẫn, kiểm tra và hỗ trợ UBND cấp xã nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác hòa giải ở cơ sở trên địa bàn toàn tỉnh. Đinh Trúc – Phổ biến, giáo dục pháp luật
16:18 19/05/2026
96
Tình huống: nguy cơ đỗ vỡ gia đình vì cá cược bóng đá
Tải PDF
09:11 15/05/2026
116
Mối quan hệ giữa công tác dân vận và hòa giải ở cơ sở
Trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta luôn quán triệt quan điểm “dân là gốc”, “cách mạng là sự nghiệp của quần chúng Nhân dân”, Nhân dân vừa là chủ thể, vừa là mục tiêu, động lực của cách mạng và xác định công tác dân vận là vấn đề có tính chiến lược, là điều kiện quan trọng củng cố và tăng cường mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân. Thu phục được lòng dân, làm cho dân tin, dân theo thì việc khó mấy cũng thành công. Đó chính là kinh nghiệm của cha ông ta trong lịch sử được Bác Hồ đúc kết thành quan điểm “Dân vận khéo thì việc khó mấy cũng thành công”. Hòa giải ở cơ sở là phương thức giải quyết mâu thuẫn, xích mích, tranh chấp ở cộng đồng dân cư, hòa giải ở cơ sở tại Việt Nam hình thành từ rất sớm, như một truyền thống văn hóa trong đời sống của người Việt, được củng cố và phát triển từ thời kỳ phong kiến đến nay. Hòa giải thành sẽ hàn gắn và khôi phục tình cảm giữa các bên tranh chấp, giúp duy trì mối quan hệ đoàn kết, gắn bó trong cộng đồng. Do đó, hòa giải ở cơ sở là chổ dựa cho việc tổ chức một xã hội đoàn kết, hòa hợp, đồng thuận, người dân tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, tạo tiền đề cho ổn định chính trị và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Vì lẽ đó, hòa giải ở cơ sở không chỉ là phương thức giải quyết tranh chấp có hiệu quả mà còn là một phương thức an dân, vận động nhân dân phát huy sức mạnh trên cơ sở hòa hiếu, đồng thuận, đoàn kết, cùng thực hiện những nhiệm vụ cách mạng do Đảng và Nhà nước đề ra. Bà Phạm Thị Minh Hiếu, Phó Chủ tịch Hội đồng PHPBGDPL tỉnh - Phó Giám đốc Sở Tư pháp phát biểu tại Hội nghị tập huấn công tác Hòa giải ở cơ sở Có thể thấy, dân vận và hòa giải ở cơ sở có cùng ý nghĩa, chung mục đích. Đó là duy trì, củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc; phát huy sức mạnh to lớn, quyền làm chủ, vận động Nhân dân thực hiện tốt các chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, góp sức xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Công tác dân vận “là công việc của cả hệ thống chính trị, của mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, đoàn viên, hội viên các đoàn thể nhân dân”. Hòa giải ở cơ sở là việc của Hòa giải viên. Tuy nhiên, hòa giải ở cơ sở cũng là mối quan tâm sâu sắc, là trách nhiệm của hệ thống chính trị, trước hết là của Nhà nước và các tổ chức đoàn thể nhân dân. Điều này được khẳng định rõ tại Chương V Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 quy định về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong hoạt động hòa giải ở cơ sở. Ngoài ra, hòa giải viên của các tổ hòa giải chủ yếu là thành viên các cơ quan, tổ chức cấu thành hệ thống chính trị. Vì vậy, trong đa số các trường hợp, khi thực hiện hòa giải ở cơ sở, các hòa giải viên vừa thực hiện trách nhiệm hòa giải viên, vừa thực hiện trách nhiệm của người làm công tác dân vận. Công tác hòa giải ở cơ sở và công tác dân vận đều tuân thủ nguyên tắc tôn trọng ý chí, sự tự nguyện, không bắt buộc, áp đặt; bảo đảm phù hợp với chính sách, pháp luật của Nhà nước, đạo đức xã hội, phong tục, tập quán tốt đẹp của Nhân dân; phát huy tinh thần đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau với phương thức tuyên truyền, giáo dục, vận động, thuyết phục trên cơ sở gần dân, sát dân, hiểu dân, học dân. Báo cáo viên trao đổi các kỹ năng hòa giải với các hòa giải viên tại Hội nghị tập huấn Xét về mục đích, ý nghĩa xã hội, trách nhiệm, chủ thể, nguyên tắc, phương thức thực hiện thì hòa giải ở cơ sở là một bộ phận của công tác dân vận. Thực hiện tốt công tác hòa giải ở cơ sở là góp phần thực hiện tốt công tác dân vận và ngược lại. Kết quả của công tác hòa giải là một phần của kết quả công tác dân vận. Mục tiêu cao nhất và cuối cùng của công tác hòa giải là nhằm hóa giải các tranh chấp, giữ gìn, bảo vệ mối đoàn kết trong cộng đồng dân cư. Đây cũng chính là mục tiêu của công tác dân vận. Để thực hiện mục tiêu này, thì “dân vận khéo” được xác định là kim chỉ nam dẫn dắt, định hướng để triển khai công tác hòa giải, nghĩa là phải có quan điểm đúng đắn, tôn trọng, gắn bó mật thiết với Nhân dân, hết lòng hết sức phục vụ Nhân dân; đồng thời phải dày công, kiên trì, có nhiều hình thức, phương pháp khéo vận động một cách nhuần nhuyễn, phù hợp, hiệu quả nhất. Có như vậy, công tác hòa giải mới thực sự có ý nghĩa và đóng góp vào quá trình xây dựng cộng đồng, xã hội ổn định, trật tự, bền vững và phát triển. Tường Vy - Phòng PBGDPL
16:16 05/05/2026
133
Một số trường hợp di chúc đã được công chứng, chứng thực nhưng vẫn có thể bị tòa án tuyên vô hiệu
Theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015, di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Trong thực tế, nhiều người cho rằng chỉ cần di chúc được công chứng thì đương nhiên có giá trị pháp lý tuyệt đối. Tuy nhiên, trên thực tế quan điểm này chưa hoàn toàn chính xác, vì pháp luật vẫn quy định những trường hợp di chúc đã được công chứng có thể bị Tòa án tuyên vô hiệu nếu không đáp ứng các điều kiện hợp pháp. Cụ thể, theo quy định tại Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015, di chúc được coi là hợp pháp khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện: người lập di chúc phải minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; việc lập di chúc hoàn toàn tự nguyện; nội dung di chúc không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội; và hình thức di chúc phải phù hợp với quy định của pháp luật. Nếu một trong các điều kiện này không được bảo đảm, di chúc có thể bị tuyên vô hiệu dù đã được công chứng. Khách hàng đang thực hiện thủ tục tại Phòng Công chứng Thứ nhất, tại thời điểm lập di chúc người lập di chúc không minh mẫn, sáng suốt. Nếu có căn cứ chứng minh người lập di chúc đang mắc bệnh tâm thần, bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc không làm chủ được hành vi của mình, thì di chúc đó có thể bị Tòa án xem xét tuyên vô hiệu theo quy định của tại Điều 630 của Luật Dân sự năm 2015. Thứ hai, trường hợp việc lập di chúc không xuất phát từ ý chí tự nguyện. Theo quy định của pháp luật, nếu người lập di chúc bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép, dẫn đến việc định đoạt tài sản không phản ánh đúng ý chí thực sự của họ, thì di chúc có thể bị vô hiệu. Nguyên tắc tự nguyện là một trong những điều kiện cốt lõi để bảo đảm giá trị pháp lý của di chúc. Thứ ba, nội dung của di chúc vi phạm điều cấm của pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội. điển hình nhiều trường hợp việc định đoạt tài sản nhằm trốn tránh nghĩa vụ tài sản, hoặc đưa ra những điều kiện trái với chuẩn mực đạo đức xã hội, đều có thể khiến di chúc bị tuyên vô hiệu theo quy định pháp luật. Thứ tư, di chúc không tuân thủ đúng quy định về hình thức và thủ tục. Theo các quy định liên quan tại Điều 631 và Điều 633 của Bộ luật Dân sự 2015, di chúc phải bảo đảm các yếu tố về hình thức như chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc, người làm chứng (nếu có), cũng như trình tự công chứng hoặc chứng thực theo đúng quy định. Nếu các thủ tục này không được thực hiện đúng, di chúc có thể bị xem xét vô hiệu. Thứ năm, di chúc định đoạt tài sản không thuộc quyền sở hữu của người lập di chúc, chẳng hạn, trong trường hợp tài sản là tài sản chung của vợ chồng hoặc của nhiều người, người lập di chúc chỉ có quyền định đoạt phần tài sản thuộc sở hữu của mình. Nếu di chúc định đoạt toàn bộ tài sản chung mà không có sự đồng ý của các đồng sở hữu khác, phần vượt quá sẽ không được công nhận. Ngoài ra, theo Điều 643 của Bộ luật Dân sự 2015, di chúc cũng có thể không có hiệu lực trong một số trường hợp như: người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được chỉ định thừa kế không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế; hoặc tài sản để lại thừa kế không còn vào thời điểm mở thừa kế. Từ những quy định nêu trên cho thấy, việc công chứng di chúc giúp tăng tính xác thực và giá trị chứng cứ nhưng không phải là yếu tố mang tính tuyệt đối để di chúc luôn có hiệu lực pháp lý. Vì vậy, để hạn chế tranh chấp thừa kế có thể phát sinh, người dân khi lập di chúc cần bảo đảm các yếu tố như: minh mẫn, tự nguyện, nội dung hợp pháp và tuân thủ đúng quy định về hình thức, thủ tục. Bên cạnh đó, UBND các xã, phường và các tổ chức hành nghề công chứng cần phải tư vấn, giải thích rõ quy định pháp luật có liên quan đến các điều kiện lập di chúc, các quyền và nghĩa vụ của người lập di chúc khi có yêu cầu. Việc tìm hiểu và tuân thủ đúng quy định của pháp luật về thừa kế không chỉ giúp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan mà còn góp phần giữ gìn sự đoàn kết, hòa thuận trong gia đình và xã hội. Võ Luân - Phòng PBGDPL
10:41 17/03/2026
547
Tranh chấp đất đai – Có bắt buộc phải hòa giải tại UBND cấp xã trước khi khởi kiện?
Đất đai là tài sản có giá trị, là nguồn tư liệu sản xuất cơ bản của xã hội, gắn liền với quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi cá nhân, tổ chức. Các vụ việc tranh chấp về quyền sử dụng đất luôn chiếm tỷ lệ lớn trong các vụ việc tranh chấp dân sự, thường xuyên kéo dài và có nguy cơ gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội, ảnh hưởng đến đoàn kết cộng đồng. Trong bối cảnh đó, hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân dân (UBND) cấp có thẩm quyền được xem là phương án đầu tiên và quan trọng nhất để hóa giải mâu thuẫn tranh chấp đất đai ngay từ cơ sở, giảm tải gánh nặng cho cơ quan Tòa án, cũng là điều kiện tiên quyết trước khi người tranh chấp khởi kiện vụ án tranh chấp đất đai tại Tòa án. Theo Luật Đất đai 2024 thì tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai. Việc hòa giải tranh chấp đất đai thực hiện theo quy định tại Điều 235 và Điều 236 Luật Đất đai 2024. Trong đó, Điều 235 Luật Đất đai 2024 quy định: “Điều 235. Hòa giải tranh chấp đất đai 1. Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải, hòa giải ở cơ sở theo quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở, hòa giải theo quy định của pháp luật về hòa giải thương mại hoặc cơ chế hòa giải khác theo quy định của pháp luật. 2. Trước khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai quy định tại Điều 236 của Luật này, các bên tranh chấp phải thực hiện hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp.” Như vậy, khi xảy ra tranh chấp đất đai trên thực tế nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp thông qua hòa giải ở cơ sở (thôn, bon, ấp, bản, tổ dân phố). Việc hòa giải ở giai đoạn này là tự nguyện, không phải là điều kiện tiên quyết, bắt buộc trước khi khởi kiện vụ án dân sự. Tuy nhiên, Luật Đất đai 2024 quy định rõ các trường hợp tranh chấp đất đai thuộc Điều 236 Luật Đất đai trước khi cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp thì bắt buộc phải hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp: “1. Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp hoặc một trong các bên tranh chấp có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 137 của Luật Đất đai và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất; 2. Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 137 của Luật Đất đai”. Ngoài ra, Khoản 2 Điều 3 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 hướng dẫn quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự 92/2015/QH13 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án do Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành quy định loại trừ điều kiện bắt buộc hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp: “2. Đối với tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất mà chưa được hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp theo quy định tại Điều 202 Luật đất đai năm 2013 thì được xác định là chưa có đủ điều kiện khởi kiện quy định tại điểm b khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Đối với tranh chấp khác liên quan đến quyền sử dụng đất như: tranh chấp về giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất, tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất, chia tài sản chung của vợ chồng là quyền sử dụng đất,... thì thủ tục hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp không phải là điều kiện khởi kiện vụ án.” Như vậy, Biên bản hòa giải (thành hoặc không thành) tại UBND cấp xã là một thành phần không thể thiếu trong hồ sơ khởi kiện các vụ việc tranh chấp đất đai tại Tòa án. Nếu người khởi kiện nộp đơn ra Tòa mà không kèm theo Biên bản hòa giải tại xã, Tòa án sẽ trả lại đơn khởi kiện với lý do chưa đủ điều kiện khởi kiện theo quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành Đối với một số tranh chấp khác liên quan đến quyền sử dụng đất như: tranh chấp về giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất, tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất, chia tài sản chung của vợ chồng là quyền sử dụng đất,.... thì không bắt buộc phải hòa giải tại UBND cấp xã trước khi khởi kiện vụ án/. Minh Hiền (Phòng Quản lý XLVPHC và TDTHPL)
09:48 26/02/2026
3062
Danh sách Hòa giải viên ở cơ sở
Danh sách Hòa giải viên ở cơ sở
14:28 18/11/2025
179
Bộ Tư pháp ban hành Chương trình khung bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ hòa giải cho hòa giải viên ở cơ sở có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký
Vừa qua, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ký ban hành Quyết định số 2372/QĐ-BTP ngày 18/7/2025 về Chương trình khung bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ hòa giải ở cơ sở cho hòa giải viên. Chương trình nhằm trang bị kiến thức pháp luật, kỹ năng, nghiệp vụ hòa giải cho hòa giải viên ở cơ sở; chuẩn hóa chương trình bồi dưỡng, tài liệu, làm căn cứ cho các cơ quan, tổ chức vận dụng vào hoạt động bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ hòa giải cho hòa giải viên ở cơ sở. Theo Chương trình khung, mỗi hòa giải viên được bồi dưỡng 60 tiết học, trong đó 23 tiết học lý thuyết và 37 tiết thực hành, thảo luận, xử lý tình huống. Chương trình bồi dưỡng gồm 4 chuyên đề: (1) nội dung cơ bản của pháp luật về hoà giải ở cơ sở; (2) kiến thức pháp luật dành cho hoà giải viên ở cơ sở; (3) nghiệp vụ, kỹ năng hoà giải ở cơ sở; (4) kiểm tra, đánh giá. Chương trình bồi dưỡng được Bộ Tư pháp ban hành là căn cứ để Sở Tư pháp tham mưu Uỷ ban nhân dân tỉnh thực hiện nhiệm vụ bồi d­ưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ hòa giải cho hòa giải viên để triển khai có hiệu quả công tác hòa giải ở cơ sở. Đồng thời là căn cứ để Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân xã, phường, đặc khu chủ trì, tham mưu giúp Ủy ban nhân dân xã, phường, đặc khu xây dựng kế hoạch và tổ chức tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ hòa giải ở cơ sở cho hòa giải viên trên địa bàn theo kế hoạch./. Ngọc Thủy – Phòng PBGDPL
08:17 14/08/2025
192
Một số vụ việc hòa giải ở cơ sở điển hình - Phần 1 vụ việc trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình (tình huống 10-11-12)
Một số vụ việc hòa giải ở cơ sở điển hình - Phần 1 vụ việc trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình (tình huống 10-11-12)
07:48 04/07/2022
104
Trang
12
Liên kết
Thống kê truy cập
  • Đang online: 50
  • Hôm nay: 3935
  • Trong tuần: 27106
  • Trong tháng: 77519
  • Tổng truy cập: 188894