TỪ 01/7/2026, LAO ĐỘNG NỮ SINH CON THỨ HAI ĐƯỢC NGHỈ THAI SẢN 07 THÁNG

10:22 09/07/2026

Luật Dân số năm 2025 (Luật số 113/2025/QH15) được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026. Đây là dấu mốc quan trọng trong chính sách dân số của Việt Nam khi chuyển trọng tâm từ “kế hoạch hóa gia đình” sang “dân số và phát triển”, đồng thời dành sự quan tâm đặc biệt đến phụ nữ thông qua việc tăng thời gian nghỉ thai sản cùng hàng loạt chính sách hỗ trợ tài chính, thiết thực giảm tải gánh nặng kinh tế và chăm sóc sức khỏe sinh sản. Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng tổ chức Hội nghị triển khai Đề án “Tuyên truyền, giáo dục, vận động, hỗ trợ phụ nữ tham gia giải quyết một số vấn đề xã hội liên quan đến phụ nữ” giai đoạn 2025-2027 trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng. Từ 01/7/2026, lao động nữ sinh con thứ hai được nghỉ thai sản 7 tháng. Đây là điểm mới đáng chú ý tại Luật Dân số 2025. Theo đó, tại khoản 1 Điều 14 Luật Dân số 2025 quy định về các biện pháp để duy trì mức sinh thay thế: Trường hợp sinh con thứ hai, thời gian nghỉ thai sản đối với lao động nữ là 07 tháng; lao động nam là 10 ngày làm việc khi vợ sinh con. Bên cạnh đó, theo khoản 1 Điều 29 Luật Dân số 2025, số 113/2025/QH15 sửa đổi bổ sung khoản 1 Điều 139 của Bộ luật Lao động 2019, số 49/2019/QH14 quy định về chế độ nghỉ thai sản như sau: - Lao động nữ được nghỉ thai sản trước và sau khi sinh con là 06 tháng. - Trường hợp sinh con thứ hai, lao động nữ được nghỉ thai sản trước và sau khi sinh con là 07 tháng; thời gian nghỉ trước khi sinh không quá 02 tháng. Như vậy, kể từ ngày 01/7/2026, phụ nữ sinh con thứ hai được nghỉ thai sản 7 tháng (tăng một tháng so với trước đây) và người chồng được nghỉ 10 ngày để cùng chăm sóc gia đình. Sinh hai con được ưu tiên mua nhà ở xã hội Theo Quy định tại khoản 1 Điều 14 Luật Dân số 2025 quy định về các biện pháp để duy trì mức sinh thay thế bao gồm: - Hỗ trợ tài chính khi sinh con đối với phụ nữ sinh đủ 02 con trước 35 tuổi. - Ưu tiên mua, thuê mua hoặc thuê nhà ở xã hội theo quy định của pháp luật về nhà ở đối với người có từ 02 con đẻ trở lên. Theo Luật Dân số năm 2025, Nhà nước sẽ hỗ trợ tài chính cho phụ nữ sinh đủ hai con trước 35 tuổi người tại vùng có mức sinh thấp hoặc thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số rất ít người. Đặc biệt, các gia đình có từ 02 con đẻ trở lên sẽ được ưu tiên mua, thuê mua hoặc thuê nhà ở xã hội. Chính sách này giúp các cặp vợ chồng sớm an cư, giảm gánh nặng kinh tế để tập trung nuôi dạy con cái. Vợ chồng được quyết định thời gian sinh con, số con Theo Điều 13 Luật Dân số 2025, số 113/2025/QH15 quy định về quyền và nghĩa vụ của mỗi cá nhân, cặp vợ chồng trong việc sinh con, chăm sóc sức khỏe sinh sản như sau: - Quyết định về thời gian sinh con, số con và khoảng cách giữa các lần sinh phù hợp với lứa tuổi, tình trạng sức khỏe, điều kiện học tập, lao động, thu nhập và nuôi dạy con của mỗi cá nhân, cặp vợ chồng trên cơ sở bình đẳng. - Bảo vệ sức khỏe, thực hiện các biện pháp phòng ngừa bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản, bệnh lây truyền qua đường tình dục, HIV/AIDS và thực hiện các biện pháp khác liên quan đến chăm sóc sức khỏe sinh sản. Như vậy, thay vì khuyến khích mỗi cặp đôi chỉ có từ 1 đến 2 con như quy định cũ, Luật Dân số 2025 trao quyền tự quyết về thời điểm, số lượng và khoảng cách sinh. Quyết định này dựa trên điều kiện sức khỏe, thu nhập và hoàn cảnh cụ thể của mỗi gia đình. Đây là giải pháp cấp thiết nhằm vực dậy mức sinh đang chạm đáy lịch sử và khắc phục chênh lệch mức sinh giữa các vùng miền. Bác sĩ tiết lộ giới tính thai nhi bị đình chỉ hành nghề Để giảm thiểu tình trạng mất cân bằng giới tính, luật nghiêm cấm việc lựa chọn giới tính thai nhi dưới mọi hình thức. Theo đó, người có hành vi thông báo, tiết lộ giới tính thai nhi để phá thai sẽ bị đình chỉ khám chữa bệnh. Quy định này góp phần hạn chế tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh, bảo đảm quyền được sinh ra bình đẳng của trẻ em và hướng tới phát triển dân số bền vững. Luật Dân số năm 2025 góp phần quan trọng nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về dân số, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững trong bối cảnh Việt Nam đang đối mặt với mức sinh thấp, già hóa dân số và yêu cầu ngày càng cao về chất lượng nguồn nhân lực. Việc bổ sung nhiều chính sách hỗ trợ phụ nữ, đặc biệt là quy định lao động nữ sinh con thứ hai được nghỉ thai sản 07 tháng, thể hiện sự quan tâm của Nhà nước trong việc bảo vệ sức khỏe bà mẹ, trẻ em, bảo đảm tốt hơn quyền và lợi ích của người lao động, đồng thời tạo điều kiện để các gia đình yên tâm sinh con, chăm sóc và nuôi dạy con. Đây là bước tiến quan trọng trong việc xây dựng chính sách dân số nhân văn, lấy người dân làm trung tâm, góp phần xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc và phát triển bền vững đất nước. Đinh Trúc - PBGDPL

NGHỊ ĐỊNH 161/2026/NĐ-CP QUY ĐỊNH MỨC LƯƠNG CƠ SỞ VÀ TIỀN THƯỞNG CHO CÁN BỘ, CÔNG CHỨC
Vừa qua, Chính phủ ban hành Nghị định số 161/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026 quy định mức lương cơ sở và chế độ tiền thưởng đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang. Theo đó, mức lương cơ sở sẽ tăng lên 2.530.000 đồng/tháng kể từ ngày 1/7/2026. Nghị định quy định mức lương cơ sở áp dụng đối với người hưởng lương, phụ cấp và chế độ tiền thưởng áp dụng đối với người hưởng lương làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội trực thuộc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức xã hội thực hiện các nhiệm vụ được nhà nước giao (cơ quan, đơn vị) ở Trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở xã, phường, đặc khu trực thuộc cấp tỉnh (cấp xã), ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt và lực lượng vũ trang. Theo Nghị định số 161/2026/NĐ-CP, từ 1/7/2026, có 9 nhóm đối tượng được hưởng lương, phụ cấp áp dụng mức lương cơ sở 2,53 triệu đồng/tháng. Đáng chú ý, Nghị định cũng quy định chế độ tiền thưởng đối với người hưởng lương trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc hệ thống chính trị và lực lượng vũ trang (trừ một số trường hợp hưởng phụ cấp, sinh hoạt phí theo quy định). Đồng thời, Nghị định số 161/2026/NĐ-CP cũng quy định mức lương cơ sở được dùng làm căn cứ: + Tính mức lương trong các bảng lương, mức phụ cấp và thực hiện các chế độ khác theo quy định của pháp luật đối với các đối tượng quy định tại Điều 2 Nghị định này; + Tính mức hoạt động phí, sinh hoạt phí theo quy định của pháp luật; + Tính các khoản trích và các chế độ được hưởng theo mức lương cơ sở. Đối với các cơ quan, đơn vị đang được áp dụng các cơ chế tài chính, thu nhập đặc thù ở Trung ương theo điểm c khoản 6.2 Nghị quyết số 142/2024/QH15 ngày 29/6/2024 của Kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XV thì: Thực hiện bảo lưu phần chênh lệch giữa tiền lương và thu nhập tăng thêm tháng 6/2026 của cán bộ, công chức, viên chức với tiền lương từ ngày 01/7/2026 sau khi sửa đổi hoặc bãi bỏ cơ chế tài chính và thu nhập đặc thù. Trong thời gian chưa sửa đổi hoặc bãi bỏ các cơ chế này thì thực hiện mức tiền lương và thu nhập tăng thêm hằng tháng tính theo mức lương cơ sở 2.530.000 đồng/tháng theo cơ chế đặc thù từ ngày 01/7/2026 bảo đảm không vượt quá mức tiền lương và thu nhập tăng thêm được hưởng tháng 6/2026 (không bao gồm phần tiền lương và thu nhập tăng thêm do điều chỉnh hệ số tiền lương ngạch, bậc khi nâng ngạch, nâng bậc). Đối với các cơ quan, đơn vị đang bảo lưu phần chênh lệch giữa tiền lương và thu nhập tăng thêm tháng 6/2024 với tiền lương từ ngày 01/7/2024 do sửa đổi hoặc bãi bỏ cơ chế tài chính và thu nhập đặc thù thì thực hiện giảm phần chênh lệch bảo lưu tương ứng với tỉ lệ tăng lương cơ sở từ ngày 01/7/2026. Trường hợp tính theo nguyên tắc trên, nếu mức tiền lương và thu nhập tăng thêm từ ngày 01/7/2026 thấp hơn mức tiền lương theo quy định chung thì thực hiện chế độ tiền lương theo quy định chung. Việc điều chỉnh mức lương cơ sở góp phần cải thiện đời sống của người hưởng lương, tạo động lực nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác, đồng thời tăng cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị. Nghị định số 161/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026. Đinh Trúc - PBGDPL
12:20 04/07/2026
619
Lâm Đồng ban hành chính sách hỗ trợ người dân chuyển đổi nghề, ổn định cuộc sống khi Nhà nước thu hồi đất
Thực hiện chính sách an sinh xã hội, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người dân khi Nhà nước thu hồi đất, Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã ban hành Quyết định số 32/2026/QĐ-UBND ngày 19/6/2026 quy định chính sách, điều kiện, hình thức và mức hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm cho hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh. Quyết định là cơ sở quan trọng giúp người dân có thêm cơ hội học nghề, tìm kiếm việc làm, nâng cao thu nhập và ổn định cuộc sống trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Quyết định số 32/2026/QĐ-UBND có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026. Trong quá trình triển khai các dự án phát triển kinh tế - xã hội, việc Nhà nước thu hồi đất có thể ảnh hưởng đến sinh kế, việc làm của một bộ phận người dân, đặc biệt là các hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp hoặc kinh doanh trên đất bị thu hồi. Nhằm hỗ trợ người dân thích ứng với sự thay đổi này, tỉnh Lâm Đồng đã ban hành chính sách hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm với nhiều nội dung thiết thực. Theo đó, Hỗ trợ đào tạo nghề, mở rộng cơ hội việc làm mới: Theo Quyết định số 32/2026/QĐ-UBND, người có đất thu hồi thuộc diện được hỗ trợ sẽ được tạo điều kiện tham gia các chương trình đào tạo nghề phù hợp với nhu cầu và khả năng của bản thân. Đối với đào tạo nghề trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 03 tháng, tỉnh hỗ trợ chi phí đào tạo theo mức thu học phí thực tế của cơ sở giáo dục nghề nghiệp nhưng tối đa không quá 4 triệu đồng/người/khóa học. Bên cạnh đó, người học nghề còn được hỗ trợ: 50.000 đồng/người/ngày thực học để hỗ trợ tiền ăn, sinh hoạt phí trong thời gian đào tạo; Hỗ trợ chi phí đi lại từ nơi cư trú đến địa điểm đào tạo theo quy định; Hỗ trợ học phí đối với người tham gia đào tạo trình độ trung cấp, cao đẳng theo quy định của pháp luật. Chính sách này giúp người dân giảm bớt gánh nặng chi phí học tập, có điều kiện tiếp cận nghề nghiệp mới, từng bước chuyển đổi sinh kế phù hợp với yêu cầu của thị trường lao động. Tăng cường hỗ trợ tìm kiếm việc làm, tạo sinh kế bền vững: Không chỉ hỗ trợ học nghề, Quyết định còn quy định các chính sách hỗ trợ giải quyết việc làm trong nước. Người có đất thu hồi được tư vấn, giới thiệu việc làm không thu phí tại Trung tâm Lưu trữ và Dịch vụ việc làm tỉnh Lâm Đồng; được cung cấp thông tin về nhu cầu tuyển dụng, ngành nghề phù hợp và cơ hội việc làm. Đối với người lao động có nhu cầu tự tạo việc làm, duy trì hoặc mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh, chính sách hỗ trợ vay vốn giải quyết việc làm được triển khai với mức vay tối đa 200 triệu đồng/người lao động theo quy định. Người dân có đất thu hồi được tư vấn, hỗ trợ thông tin về chính sách đào tạo nghề, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm theo quy định của tỉnh Lâm Đồng. Đây là giải pháp góp phần giúp người dân chủ động phát triển kinh tế hộ gia đình, chuyển đổi mô hình sản xuất, nâng cao thu nhập và ổn định đời sống lâu dài. Cơ hội làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng: Một điểm đáng chú ý trong chính sách mới là việc hỗ trợ người có đất thu hồi tham gia thị trường lao động ngoài nước. Người dân có nhu cầu đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng được hỗ trợ nhiều khoản chi phí như: Đào tạo nghề; Đào tạo ngoại ngữ với mức hỗ trợ tối đa 4 triệu đồng/người/khóa học; Giáo dục định hướng trước khi xuất cảnh; Tiền ăn, chi phí đi lại trong thời gian đào tạo; Một số chi phí cần thiết như hộ chiếu, thị thực, phiếu lý lịch tư pháp, khám sức khỏe theo quy định. Ngoài ra, người lao động còn có thể được vay vốn hỗ trợ đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng với mức vay tối đa bằng 100% tổng chi phí phải trả trước khi đi làm việc ở nước ngoài (trừ các khoản đã được ngân sách nhà nước hỗ trợ). Bảo đảm chính sách được triển khai đúng đối tượng, kịp thời: Quyết định số 32/2026/QĐ-UBND quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị trong tổ chức thực hiện. Trong đó, các cơ quan chuyên môn của tỉnh, chính quyền địa phương, Ngân hàng Chính sách xã hội và các đơn vị liên quan có trách nhiệm phối hợp rà soát đối tượng, hướng dẫn hồ sơ, triển khai hỗ trợ đúng quy định. Việc ban hành chính sách hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm cho người có đất thu hồi thể hiện sự quan tâm của tỉnh Lâm Đồng trong việc bảo đảm an sinh xã hội, lấy người dân làm trung tâm trong quá trình phát triển. Thông qua chính sách này, người dân không chỉ được hỗ trợ trước mắt mà còn được tạo điều kiện nâng cao kỹ năng nghề nghiệp, tìm kiếm việc làm ổn định, từng bước xây dựng cuộc sống tốt hơn. Đỗ Toàn – Phòng PBGDPL
15:38 29/06/2026
90
ĐIỂM MỚI NỔI BẬT VÀ TÁC ĐỘNG CHÍNH SÁCH TRONG NGHỊ QUYẾT SỐ 31/2026/NQ-CP NGÀY 24/6/2026 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ CHÍNH SÁCH ĐẶC THÙ NHẰM ĐẨY MẠNH XỬ LÝ NHÀ, ĐẤT SAU SẮP XẾP ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH
15:35 29/06/2026
60
LÂM ĐỒNG QUY ĐỊNH CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ GIẢI BẢN TÀU CÁ, CHUYỂN ĐỔI NGHỀ CHO NGƯ DÂN
Ngày 29/5/2026, Hội đồng nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã ban hành Nghị quyết số 24/2026/NQ-HĐND quy định chính sách hỗ trợ giải bản tàu cá, chuyển đổi nghề, thay thế thiết bị giám sát hành trình tàu cá và hỗ trợ cước phí thuê bao dịch vụ nhật ký điện tử cho chủ tàu cá trên địa bàn tỉnh. Theo đó, Nghị quyết được ban hành nhằm góp phần thực hiện tái cơ cấu ngành thủy sản theo hướng bền vững, giảm áp lực khai thác nguồn lợi thủy sản, nâng cao hiệu quả quản lý nghề cá và hỗ trợ ngư dân ổn định đời sống, chuyển đổi sinh kế phù hợp. Theo Nghị quyết, người được hưởng chính sách hỗ trợ phải có hộ khẩu thường trú tại tỉnh Lâm Đồng và đăng ký chuyển đổi sang các ngành nghề hợp pháp ngoài lĩnh vực khai thác thủy sản. Đối với chủ tàu cá có chiều dài lớn nhất từ 6 mét trở lên tự nguyện giải bản tàu cá và đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định, Nhà nước hỗ trợ ổn định thu nhập từ 50.000.000 đồng đến 250.000.000 đồng/tàu, tùy theo chiều dài của tàu cá. Bên cạnh đó, chủ tàu được hỗ trợ 10.000.000 đồng để thực hiện phá dỡ tàu cá và hỗ trợ ổn định đời sống trong thời gian chuyển đổi sinh kế với mức 3000.000 đồng/hộ/tháng trong 03 tháng. (Hình ảnh ngư dân đang hoạt động nghề đánh bắt trên biển) Nhằm tạo điều kiện cho ngư dân học nghề và tìm kiếm việc làm mới, Nghị quyết quy định hỗ trợ đào tạo nghề đối với chủ tàu giải bản và thuyền viên đang làm việc trên các tàu cá thuộc diện giải bản. Mức hỗ trợ đào tạo là 4.000.000đồng/người/khóa học; hỗ trợ tiền ăn, sinh hoạt phí 50.000đồng/người/ngày trong thời gian học nghề, tối đa 03 tháng. Người học có nơi cư trú cách địa điểm đào tạo từ 15 km trở lên còn được hỗ trợ chi phí đi lại 200.000 đồng/người/khóa học. Các trường hợp không có nhu cầu học nghề nhưng thực hiện chuyển đổi sang ngành nghề hợp pháp khác, người lao động được hỗ trợ một lần 6.000.000 đồng/người để tạo điều kiện ổn định cuộc sống và tìm kiếm việc làm mới. Ngoài các chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề, Nghị quyết còn quy định một số chính sách nhằm tăng cường ứng dụng công nghệ trong quản lý hoạt động khai thác thủy sản. Theo đó, tàu cá có chiều dài từ 15 mét trở lên được hỗ trợ 10.000.000đồng/tàu để thay thế thiết bị giám sát hành trình. Đối với tàu cá có chiều dài từ 12 mét trở lên, chủ tàu được hỗ trợ chi phí thuê bao dịch vụ nhật ký khai thác thủy sản điện tử với mức 2.400.000đồng/tàu/năm. Đồng thời, cũng quy định rõ việc hỗ trợ phải bảo đảm công khai, minh bạch, đúng đối tượng và đúng mục đích. Mỗi đối tượng chỉ được hưởng chính sách hỗ trợ một lần và không được hưởng trùng lặp với các chính sách hỗ trợ có cùng nội dung đã được thụ hưởng trước đó. Bên cạnh đó, chính sách hỗ trợ giải bản tàu cá và chuyển đổi nghề được thực hiện đến hết ngày 31/12/2030; chính sách hỗ trợ thay thế thiết bị giám sát hành trình tàu cá được thực hiện đến hết ngày 31/12/2026; chính sách hỗ trợ cước phí thuê bao dịch vụ nhật ký khai thác thủy sản điện tử được thực hiện đến hết ngày 31/12/2027. Việc triển khai Nghị quyết số 24/2026/NQ-HĐND được kỳ vọng sẽ tạo thêm động lực để ngư dân mạnh dạn chuyển đổi nghề nghiệp, ổn định sinh kế, nâng cao chất lượng cuộc sống; đồng thời góp phần bảo vệ nguồn lợi thủy sản, xây dựng ngành thủy sản phát triển theo hướng hiện đại, có trách nhiệm và bền vững. Nghị quyết số 24/2026/NQ-HĐND có hiệu lực thi hành từ ngày 09/6/2026. Ngọc Thủy – Phòng PBGDPL
14:01 23/06/2026
104
TỈNH ỦY LÂM ĐỒNG BAN HÀNH QUY ĐỊNH TẠM THỜI VỀ TIÊU CHUẨN CHI ỦY VIÊN, BÍ THƯ, PHÓ BÍ THƯ CHI BỘ THÔN, TỔ DÂN PHỐ
Vừa qua, Tỉnh ủy Lâm Đồng đã ban hành Quy định số 974-QĐ/TU về tiêu chuẩn tạm thời đối với Chi ủy viên, Bí thư, Phó Bí thư chi bộ thôn, tổ dân phố để bố trí sau sắp xếp. Đây là cơ sở quan trọng nhằm chuẩn hóa và nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở Đảng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới. Quy định này được áp dụng trực tiếp đối với các đảng viên được giới thiệu tham gia cấp ủy, giới thiệu giữ chức danh Bí thư, Phó Bí thư chi bộ tại các thôn, tổ dân phố sau khi tiến hành sáp nhập, sắp xếp. Để đảm đương nhiệm vụ, các cán bộ cơ sở cần đáp ứng những tiêu chuẩn chặt chẽ trên nhiều phương diện. Tiêu chuẩn chung đối với Chi ủy viên Vững vàng, gương mẫu và hiện đại. Chi ủy viên trước hết phải là người có bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với lợi ích của Đảng, Nhà nước và Nhân dân, sẵn sàng đặt lợi ích của tập thể lên trên lợi ích cá nhân. Về đạo đức lối sống, đòi hỏi cán bộ phải giữ gìn sự đoàn kết, chí công vô tư, kiên quyết chống lại các biểu hiện cục bộ, bè phái và “lợi ích nhóm”. Đặc biệt, trong bối cảnh hiện nay, Quy định yêu cầu cán bộ phải có phong cách làm việc dân chủ, gần dân, lắng nghe và giải quyết kịp thời nguyện vọng chính đáng của Nhân dân. Cán bộ cũng phải có khả năng ứng dụng công nghệ thông tin và sử dụng các nền tảng số để phục vụ công tác chuyển đổi số ở cơ sở. Về trình độ, Chi ủy viên phải tốt nghiệp trung học phổ thông và tương đương trở lên (ưu tiên có trình độ trung cấp trở lên); có chứng chỉ bồi dưỡng lý luận chính trị hoặc đã được bồi dưỡng nghiệp vụ cấp ủy. Quy định cũng đặc biệt ưu tiên lựa chọn nhân sự trẻ trong độ tuổi lao động; nhân sự tham gia lần đầu không vượt quá 65 tuổi tại thời điểm chỉ định. Tiêu chuẩn cao hơn đối với người đứng đầu chi bộ (Bí thư, Phó Bí thư) Đối với chức danh Bí thư và Phó Bí thư, ngoài việc đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn của Chi ủy viên, cần phải có thêm các năng lực chuyên sâu. Chức danh Bí thư Chi bộ: Cần có năng lực tổ chức, điều hành, cụ thể hóa nghị quyết cấp trên vào thực tiễn; có kỹ năng vận động quần chúng tạo sự đồng thuận trong các phong trào như “xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”; có kinh nghiệm thực tế hiểu rõ tình hình đặc thù của thôn, tổ dân phố, có kinh nghiệm trong hòa giải cơ sở, xử lý tình huống phức tạp phát sinh. Bí thư còn phải sử dụng thành thạo phần mềm soạn thảo, sổ tay đảng viên điện tử và phần mềm quản lý điều hành. Đặc biệt, ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, ưu tiên đảng viên là người có uy tín, người dân tộc thiểu số hoặc thông thạo tiếng dân tộc. Chức danh Phó Bí thư Chi bộ: Cần kỹ năng tổng hợp, báo cáo, soạn thảo văn bản Đảng, có khả năng chủ trì điều hành các cuộc họp khi được phân công và am hiểu sâu sắc tình hình đặc thù tại địa phương. Cả Bí thư và Phó Bí thư đều phải là những người được đảng viên và quần chúng nhân dân tín nhiệm cao. Cơ chế linh hoạt cho vùng khó khăn Nhằm đảm bảo sự linh hoạt, sát với tình hình thực tiễn, quy định nêu rõ, đối với vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, vùng đặc biệt khó khăn hoặc vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nếu gặp khó khăn về nguồn nhân sự chưa bảo đảm tiêu chuẩn về học vấn, lý luận chính trị hoặc độ tuổi, nhưng cán bộ đó có phẩm chất đạo đức, uy tín và năng lực thực tiễn tốt, Ban Thường vụ Đảng ủy cấp xã được quyền xem xét, quyết định bố trí nhân sự phù hợp. Tuy nhiên, song song với đó phải xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng để từng bước chuẩn hóa đội ngũ. Đối với các chức danh kiêm nhiệm (như Bí thư Chi bộ kiêm Trưởng ban công tác Mặt trận hoặc Trưởng thôn), nhân sự phải đảm bảo đồng thời tiêu chuẩn của chức danh theo Quy định này và tiêu chuẩn của chức vụ kiêm nhiệm theo quy định của Trung ương, của tỉnh. Quy định 974-QĐ/TU có hiệu lực kể từ ngày ký. Đây được xem là kim chỉ nam giúp các tổ chức cơ sở Đảng trên địa bàn toàn tỉnh Lâm Đồng rà soát, đánh giá nâng cao chất lượng, trình độ, năng lực thực tiễn trong bố trí người hoạt động ở thôn, tổ dân phố một cách khoa học, hiệu quả, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với hệ thống chính trị cơ sở. Đinh Trúc - PBGDPL
11:25 22/06/2026
586
QUY ĐỊNH MỘT SỐ MỨC PHẠT MỚI, ĐÁNG CHÚ Ý TRONG LĨNH VỰC CHĂN NUÔI
Ngày 16/6/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 211/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về chăn nuôi. Nghị định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 05/8/2026, là cơ sở pháp lý quan trọng nhằm tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực chăn nuôi, bảo đảm phát triển ngành chăn nuôi theo hướng bền vững, an toàn sinh học, bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng. Nghị định quy định cụ thể các hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả và thẩm quyền xử phạt đối với tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm trong lĩnh vực chăn nuôi trên lãnh thổ Việt Nam. Đối tượng áp dụng bao gồm cá nhân, hộ gia đình, cơ sở chăn nuôi, doanh nghiệp, hợp tác xã và các tổ chức có liên quan đến hoạt động chăn nuôi. Một trong những nội dung đáng chú ý của Nghị định là quy định nguyên tắc xử phạt nghiêm minh đối với các hành vi vi phạm ảnh hưởng đến chất lượng giống vật nuôi, chất lượng thức ăn chăn nuôi, điều kiện chăn nuôi, xử lý chất thải chăn nuôi, hoạt động sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực chăn nuôi và các hành vi gây mất an toàn sinh học, ảnh hưởng đến môi trường và sức khỏe người dân, một số mức phạt đáng chú ý được quy định cụ thể như sau: Để tránh bị xử phạt vi phạm hành chính, các tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực chăn nuôi cần chủ động tìm hiểu và chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật; sử dụng giống vật nuôi có nguồn gốc rõ ràng; lựa chọn thức ăn chăn nuôi bảo đảm chất lượng; thực hiện đầy đủ các biện pháp an toàn sinh học và phòng, chống dịch bệnh; chấp hành các quy định về bảo vệ môi trường; thực hiện kê khai và duy trì các điều kiện chăn nuôi theo quy định; không sản xuất, kinh doanh hoặc sử dụng các sản phẩm không rõ nguồn gốc, không bảo đảm chất lượng. Nghị định này thay thế Nghị định số 14/2021/NĐ-CP ngày 01 tháng 3 năm 2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về chăn nuôi; bãi bỏ Điều 4 Nghị định số 07/2022/NĐ-CP ngày 10 tháng 01 năm 2022 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lâm nghiệp; bảo vệ và kiểm dịch thực vật; thú y; chăn nuôi./. Thảo My – Phòng QLXLVPHC&TDTHPL
10:24 22/06/2026
183
CHÍNH PHỦ BAN HÀNH QUY ĐỊNH VỀ CƠ SỞ DỮ LIỆU QUỐC GIA VỀ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC
Thực hiện chủ trương của Chính phủ về chuyển đổi số, xây dựng Chính phủ điện tử, Chính phủ số và các quy định về xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức; thời gian qua các cơ quan, đơn vị, địa phương trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng đã tích cực triển khai việc cập nhật, chuẩn hóa và đồng bộ hồ sơ cán bộ, công chức, viên chức trên Phần mềm quản lý cán bộ, công chức, viên chức của tỉnh. Các cơ quan, đơn vị đã thực hiện rà soát thông tin cá nhân, quá trình công tác, trình độ đào tạo, bồi dưỡng, ngạch công chức, chức danh nghề nghiệp viên chức, quá trình lương, khen thưởng, kỷ luật và các thông tin liên quan khác để cập nhật lên hệ thống. Tiếp tục đáp ứng yêu cầu đổi mới công tác quản lý cán bộ, công chức, viên chức trong bối cảnh đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, xây dựng Chính phủ số và hoàn thiện cơ sở dữ liệu quốc gia. Vừa qua, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 27/2026/NĐ-CP ngày 19/01/2026 quy định về Cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức, Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026. Công chức Sở Tư pháp thực hiện tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính Nghị định được ban hành nhằm tạo cơ sở pháp lý thống nhất cho việc xây dựng, quản lý, khai thác và sử dụng Cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức; đồng thời đẩy mạnh chuyển đổi số trong công tác quản lý đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trên phạm vi toàn quốc. Theo đó, Cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức là cơ sở dữ liệu dùng chung quốc gia, được lưu trữ tập trung, kết nối, chia sẻ và khai thác thống nhất từ Trung ương đến cấp xã. Dữ liệu bao gồm các thông tin cơ bản về nhân thân, quá trình công tác, đào tạo, bồi dưỡng, tiền lương, khen thưởng, kỷ luật và các thông tin khác phục vụ công tác quản lý cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật. Một trong những điểm mới nổi bật của Nghị định là sử dụng số định danh cá nhân làm mã định danh duy nhất của cán bộ, công chức, viên chức trong cơ sở dữ liệu và hồ sơ điện tử. Quy định này góp phần bảo đảm tính đồng bộ, chính xác của dữ liệu, hạn chế trùng lặp thông tin và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước. Bên cạnh đó, Nghị định cũng quy định rõ trách nhiệm của các bộ, ngành, địa phương và cơ quan, đơn vị trong việc thu thập, cập nhật, quản lý, bảo đảm tính đầy đủ, chính xác của dữ liệu; đồng thời tăng cường các biện pháp bảo đảm an toàn thông tin, bảo vệ dữ liệu cá nhân và bảo mật dữ liệu theo quy định của pháp luật. Việc triển khai hiệu quả Nghị định số 27/2026/NĐ-CP sẽ góp phần hiện đại hóa nền hành chính, nâng cao chất lượng công tác quản lý cán bộ, công chức, viên chức; tạo nền tảng quan trọng cho xây dựng Chính phủ số, chính quyền số và thúc đẩy quá trình chuyển đổi số quốc gia trong giai đoạn mới. Bích Quyên – Văn phòng Sở
10:38 19/06/2026
243
ĐĂNG KÝ BIẾN ĐỘNG ĐẤT ĐAI: QUY ĐỊNH CẦN BIẾT ĐỐI VỚI NGƯỜI SỬ DỤNG ĐẤT
Đất đai là tài sản quan trọng, có giá trị lớn đối với mỗi cá nhân, tổ chức. Việc quản lý, sử dụng đất đúng quy định pháp luật không chỉ góp phần bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người sử dụng đất mà còn nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai. Trong thời gian qua, thực hiện công tác kiểm tra và xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng, cho thấy vẫn còn tình trạng một số cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân không thực hiện đăng ký biến động đất đai khi có thay đổi về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất. Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm của người quản lý và sử dụng đất, đồng thời hạn chế các hành vi vi phạm pháp luật về đất đai, nhất là trong tình hình sáp nhập, thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, rất nhiều cơ quan, đơn vị quản lý nhà nước, đơn vị sự nghiệp, các doanh nghiệp và tổ chức thực hiện thay đổi tên gọi, thực hiện sáp nhập, được điều chuyển tài sản công và có các thông tin về quyền sử dụng đất cần đăng ký biến động theo quy định tại Khoản 1 và Khoản 3 Điều 133 Luật Đất đai năm 2024. Vừa qua, Sở Nông nghiệp và Môi trường đã ban hành văn bản số 7786/SNNMT-PC ngày 10/6/2026 đề nghị các Sở, ban, ngành và địa phương tăng cường việc tuyên truyền, hướng dẫn các đơn vị, cơ quan quản lý thuộc thẩm quyền và các tổ chức, doanh nghiệp trên địa bàn quản lý nghiêm túc thực hiện việc đăng ký biến động đất đai theo quy định của Điều 133 Luật Đất đai năm 2024, cụ thể: Theo quy định tại Điều 133 Luật Đất đai năm 2024, đăng ký biến động đất đai là thủ tục bắt buộc được thực hiện khi thông tin về người sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất hoặc các nội dung liên quan đến quyền sử dụng đất có sự thay đổi so với Giấy chứng nhận đã được cấp. Những trường hợp phải đăng ký biến động đất đai: Người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất phải thực hiện đăng ký biến động trong nhiều trường hợp như: Chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất; cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất theo quy định; chuyển nhượng dự án có sử dụng đất. Thay đổi tên của người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất; thay đổi thông tin trên Giấy chứng nhận đã cấp. Thay đổi về ranh giới, mốc giới, kích thước cạnh, diện tích, số hiệu hoặc địa chỉ thửa đất. Đăng ký quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất hoặc thay đổi tài sản trên đất so với nội dung đã đăng ký. Chuyển mục đích sử dụng đất; thay đổi thời hạn sử dụng đất; thay đổi hình thức giao đất, cho thuê đất, nghĩa vụ tài chính về đất đai. Các trường hợp thay đổi quyền sử dụng đất do chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi mô hình tổ chức; xử lý tranh chấp, thi hành án, đấu giá quyền sử dụng đất hoặc thay đổi quyền đối với thửa đất liền kề. Đặc biệt, trong quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy, thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, nhiều cơ quan, đơn vị có sự thay đổi tên gọi, sáp nhập, điều chuyển tài sản công. Các trường hợp này có liên quan đến quyền sử dụng đất cũng cần được rà soát và thực hiện đăng ký biến động theo quy định. Về thời hạn thực hiện đăng ký biến động đất đai: Đối với các trường hợp như chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho, thay đổi tên, chia tách, sáp nhập tổ chức, thay đổi quyền sử dụng đất theo thỏa thuận hoặc quyết định của cơ quan có thẩm quyền..., người sử dụng đất phải thực hiện đăng ký biến động trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày phát sinh biến động. Việc thực hiện đúng thời hạn giúp cập nhật kịp thời thông tin đất đai, bảo đảm dữ liệu đất đai chính xác, minh bạch; đồng thời hạn chế các tranh chấp, khó khăn khi thực hiện các giao dịch về đất đai. Giải quyết các thủ tục về đất đai tại các Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai khu vực Đăng ký biến động đất đai không chỉ là nghĩa vụ pháp lý mà còn là quyền lợi thiết thực của người sử dụng đất. Việc đăng ký kịp thời giúp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất; bảo đảm thông tin trên Giấy chứng nhận phù hợp với thực tế; giúp thuận lợi khi chuyển nhượng, thế chấp, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; góp phần xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu đất đai đầy đủ, chính xác; đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai. Do đó, mỗi cá nhân, tổ chức sử dụng đất cần chủ động rà soát lại thông tin trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất; khi phát sinh thay đổi cần liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện thủ tục đăng ký biến động theo quy định. Các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp cần tăng cường kiểm tra, rà soát quỹ đất, tài sản công, tài sản thuộc quyền quản lý; kịp thời thực hiện việc đăng ký biến động khi có thay đổi về tổ chức, tên gọi, quyền quản lý, sử dụng đất hoặc điều chuyển tài sản. Thực hiện đầy đủ quy định về đăng ký biến động đất đai là trách nhiệm của người sử dụng đất, đồng thời là giải pháp quan trọng góp phần xây dựng môi trường pháp lý minh bạch, ổn định và phát triển bền vững. Chu Nga - Phòng Hành chính tư pháp
10:29 19/06/2026
339
Sửa đổi, bổ sung một số quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bình đẳng giới
Nghị định số 76/2026/NĐ-CP ngày 16/3/2026 của Chính phủ được ban hành nhằm sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 125/2021/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bình đẳng giới. Nghị định đã tăng mức tiền phạt các hành vi vi phạm trong nhiều lĩnh vực.
08:28 15/06/2026
102
Đăng ký biến động đất đai: Quy định cần biết đối với người sử dụng đất
Đất đai là tài sản quan trọng, có giá trị lớn đối với mỗi cá nhân, tổ chức. Việc quản lý, sử dụng đất đúng quy định pháp luật không chỉ góp phần bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người sử dụng đất mà còn nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai.
08:26 15/06/2026
1457
Trang
123456789
Liên kết
Thống kê truy cập
  • Đang online: 48
  • Hôm nay: 1641
  • Trong tuần: 27126
  • Trong tháng: 87990
  • Tổng truy cập: 313245