Quốc Hội ban hành quy định cơ chế đặc thù xử lý vi phạm và tháo gỡ khó khăn cho các dự án đất đai tồn đọng

10:40 27/05/2026

Tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã chính thức thông qua Nghị quyết số 29/2026/QH16 về cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật về đất đai của tổ chức, cá nhân xảy ra trước khi Luật Đất đai năm 2024 có hiệu lực và tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài. Nghị quyết có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/5/2026, được kỳ vọng là giải pháp đột phá nhằm giải phóng nguồn lực đất đai, khơi thông điểm nghẽn cho các dự án dậm chân tại chỗ nhiều năm qua. Đây là cơ chế mang tính lịch sử, bởi thực tế các dự án tồn đọng hiện nay thường xuất phát từ sự đan xen lỗi giữa hành vi vi phạm của chủ đầu tư và những bất cập, hạn chế trong công tác quản lý của cơ quan Nhà nước qua các thời kỳ. Theo nội dung vừa được thông qua, cơ chế và chính sách đặc thù này được áp dụng tập trung đối với hai nhóm nội dung chính. Nhóm thứ nhất là xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về đất đai tại các dự án, công trình xảy ra trước ngày 01/8/2024 vì mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và không có hành vi tham nhũng. Nhóm thứ hai hướng tới việc tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đối với các dự án tồn đọng, kéo dài phát sinh trước thời điểm nêu trên. Trong suốt quá trình triển khai, Nghị quyết nhấn mạnh nguyên tắc cốt lõi là phải bảo đảm không hợp pháp hóa sai phạm, không để phát sinh sai phạm mới, đồng thời phải hài hòa lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, nhà đầu tư cùng các chủ thể liên quan, gắn liền với việc phòng ngừa thất thoát, lãng phí tài sản công. Một trong những điểm mới mang tính đột phá và nhân đạo của Nghị quyết là quy định cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng xem xét không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với một số trường hợp vi phạm pháp luật về đất đai nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện khắt khe. Cụ thể, các trường hợp này phải không có hành vi tham nhũng, vi phạm xảy ra vì mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội hoặc bảo đảm quốc phòng, an ninh, đồng thời dự án hoặc công trình đó đã hoàn thành và mang lại hiệu quả thực tế, không còn khiếu nại, tố cáo hoặc đã được giải quyết dứt điểm theo quy định. Riêng đối với các trường hợp gây thất thoát, lãng phí tài sản nhà nước thì các tổ chức, cá nhân bắt buộc phải thực hiện khắc phục toàn bộ hậu quả. Đối với các dự án, công trình đang triển khai nhưng chưa hoàn thành hoặc chưa khắc phục xong hậu quả do nguyên nhân khách quan, cơ quan có thẩm quyền được phép xem xét tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự để tạo điều kiện và thời gian cho các đối tượng tập trung khắc phục hậu quả theo đúng quy định. (Toàn cảnh kỳ họp thứ Nhất Quốc hội khóa XVI. Nguồn: VTV1) Bên cạnh trách nhiệm hình sự, Nghị quyết cũng mở ra hành lang pháp lý bảo vệ và tạo cơ hội sửa sai cho đội ngũ cán bộ trong thực thi công vụ. Đối với cán bộ, công chức, viên chức và người thuộc lực lượng vũ trang nhân dân có vi phạm nhưng không liên quan đến tham nhũng, thực hiện vì mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội hoặc bảo đảm quốc phòng, an ninh, Nghị quyết quy định việc xem xét miễn kỷ luật hoặc chưa xem xét xử lý kỷ luật nhằm tạo điều kiện cho họ tiếp tục phối hợp khắc phục hậu quả tồn đọng của dự án. Ngoài ra, văn bản này cũng quy định rõ cơ chế xem xét miễn, giảm trách nhiệm hình sự, hoãn chấp hành hình phạt, miễn chấp hành phần hình phạt còn lại hoặc xem xét xóa án tích đối với các trường hợp có đủ điều kiện theo quy định pháp luật. Đối với nhóm giải pháp tháo gỡ khó khăn cho các dự án tồn đọng, kéo dài, Nghị quyết cũng đưa ra nhiều cơ chế mang tính tháo gỡ trực diện cho các vướng mắc lịch sử. Các cơ chế này bao gồm việc xử lý đối với các dự án được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đúng quy định, các dự án có vi phạm trong khâu lựa chọn nhà đầu tư, giao đất, cho thuê đất, hoặc các dự án vi phạm về mục đích sử dụng đất và việc thu hồi đất chưa đúng quy định của pháp luật. Đáng chú ý, đối với một số dự án đã lựa chọn nhà đầu tư nhưng chưa thực hiện đấu giá quyền sử dụng đất hoặc đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư, sau khi được cơ quan chức năng rà soát kỹ lưỡng thì không phải thực hiện lại các thủ tục đấu giá, đấu thầu này, cho phép dự án được tiếp tục triển khai ngay để tránh lãng phí thời gian và chi phí cơ hội của doanh nghiệp. Để bảo đảm tính kịp thời, dứt điểm và không kéo dài vô thời hạn các cơ chế thí điểm, Quốc hội đã quy định lộ trình thực hiện rất rõ ràng cho từng nhóm nội dung. Các quy định đặc thù về xử lý vi phạm pháp luật về đất đai sẽ được thực hiện đến hết ngày 01/5/2029. Trong khi đó, các cơ chế, chính sách mang tính tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đối với các dự án tồn đọng, kéo dài sẽ có thời hạn thực hiện dài hơn, kéo dài đến hết ngày 01/5/2031. Khả Thịnh

Một số điểm mới nổi bật của Luật Hộ tịch năm 2026
Chiều ngày 23/4/2026, tại Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XVI, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Luật Hộ tịch năm 2026 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/3/2027. Đây là một trong những đạo luật quan trọng trong chương trình hoàn thiện thể chế, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính và chuyển đổi số trong lĩnh vực tư pháp – hộ tịch. Các đại biểu tham dự phiên họp ngày 23/4/2026 Nguồn: Trang thông tin Báo Điện tử Chính phủ Luật Hộ tịch năm 2026 tập trung quy định về đăng ký hộ tịch, xây dựng và quản lý cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, trách nhiệm quản lý nhà nước cũng như cơ chế khai thác, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan có liên quan. Tinh thần xuyên suốt của đạo luật là hiện đại hóa công tác quản lý hộ tịch, tăng cường liên thông dữ liệu, giảm thiểu giấy tờ và tạo thuận lợi tối đa cho người dân trong quá trình thực hiện thủ tục hành chính. Một trong những điểm nổi bật của Luật lần này là việc thúc đẩy số hóa toàn diện quy trình đăng ký hộ tịch, hướng tới xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử thống nhất trên phạm vi toàn quốc. Điều này không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước mà còn giúp người dân tiếp cận các dịch vụ công nhanh chóng, minh bạch và thuận tiện hơn. So với Luật Hộ tịch năm 2014, Luật Hộ tịch năm 2026 được tinh gọn đáng kể, gồm 4 chương, 30 điều (giảm 3 chương và 47 điều), đồng thời bổ sung nhiều quy định mới mang tính thực tiễn cao, như: Về thẩm quyền đăng ký hộ tịch (Điều 8 Luật Hộ tịch năm 2026): - Đăng ký tại Ủy ban nhân dân cấp xã không phụ thuộc vào nơi cư trú, không phụ thuộc vào địa giới hành chính, thực hiện đăng ký tất cả các sự kiện, thông tin hộ tịch. - Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền ký giấy tờ hộ tịch. Căn cứ tình hình thực tế tại địa phương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã được ủy quyền ký giấy tờ hộ tịch theo quy định, trừ các loại giấy tờ: Giấy khai sinh; Giấy chứng nhận kết hôn; Giấy tờ hộ tịch trong trường hợp đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài. - Bổ sung thẩm quyền đăng ký giám sát việc giám hộ, chấm dứt việc giám hộ không phụ thuộc vào nơi cư trú của người được giám hộ (Điều 17 Luật Hộ tịch năm 2026). Về quyền, nghĩa vụ đăng ký hộ tịch (Điều 5 Luật Hộ tịch năm 2026): Bổ sung quy định về quyền, nghĩa vụ đăng ký hộ tịch của người gốc Việt Nam chưa xác định được quốc tịch đang sinh sống tại Việt Nam thống nhất với Luật Căn cước, qua đó, bảo đảm quyền đăng ký khai sinh của tất cả trẻ em sinh ra tại Việt Nam hoặc sinh sống ổn định trên lãnh thổ Việt Nam. Về trách nhiệm của cơ quan đăng ký hộ tịch (Điều 3 Luật Hộ tịch năm 2026): Cơ quan đăng ký hộ tịch có trách nhiệm chủ động khai thác, dữ liệu điện tử, tra cứu thông tin trong cơ sở dữ liệu liên quan, phù hợp với mức độ đáp ứng của cơ sở dữ liệu; không yêu cầu nộp, xuất trình hoặc tải lên giấy tờ là thành phần hồ sơ, trừ trường hợp không khai thác được thông tin hoặc thông tin khai thác được không đầy đủ, không chính xác. Giá trị pháp lý của giấy tờ hộ tịch (Điều 9 Luật Hộ tịch năm 2026): Dữ liệu hộ tịch điện tử gồm bản điện tử giấy tờ hộ tịch, dữ liệu trong Cơ sở dữ liệu hộ tịch đáp ứng các quy định của pháp luật về giao dịch điện tử, có giá trị như giấy tờ hộ tịch bản giấy khi thực hiện thủ tục hành chính và các giao dịch khác. Phương thức yêu cầu, trả kết quả đăng ký hộ tịch (Điều 10 Luật Hộ tịch năm 2026): - Người yêu cầu đăng ký hộ tịch có quyền lựa chọn nộp hồ sơ trực tuyến hoặc gửi hồ sơ qua dịch vụ bưu chính hoặc nộp hồ sơ trực tiếp tại cơ quan đăng ký hộ tịch, cơ quan quản lý hộ tịch có thẩm quyền. - Người yêu cầu đăng ký hộ tịch có quyền lựa chọn nhận kết quả là bản giấy qua dịch vụ bưu chính hoặc trực tiếp tại cơ quan đăng ký hộ tịch, cơ quan quản lý hộ tịch, trừ trường hợp đăng ký kết hôn thì nhận trực tiếp Giấy chứng nhận kết hôn tại cơ quan đăng ký hộ tịch. - Thủ tục đăng ký khai sinh, đăng ký kết hôn, đăng ký khai tử được trả kết quả là bản giấy và bản điện tử. Thủ tục đăng ký hộ tịch khác được trả kết quả là bản điện tử; kết quả là bản giấy chỉ trả khi người đăng ký hộ tịch có yêu cầu. Việc ban hành Luật Hộ tịch năm 2026 được kỳ vọng sẽ tạo bước chuyển mạnh mẽ trong công tác quản lý hộ tịch, góp phần đơn giản hóa thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian giải quyết hồ sơ, nâng cao chất lượng phục vụ người dân, là giải pháp thúc đẩy quá trình xây dựng chính phủ số và xã hội số tại Việt Nam. Kim Oanh, HCTP
15:12 25/05/2026
113
Lâm Đồng triển khai thực hiện thí điểm chế định luật sư công
Vừa qua, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết 24/2026/QH16 ngày 24/4/2026 về thí điểm thực hiện chế định luật sư công. Theo đó, Lâm Đồng là một trong 10 tỉnh, thành phố thực hiện thí điểm chế định luật sư công. Thời gian thực hiện thí điểm từ ngày 01/10/2026 đến ngày 30/9/2028. Một trong những nội dung đáng chú ý của Nghị quyết là quy định cụ thể luật sư công là cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan Quân đội nhân dân, sĩ quan Công an nhân dân, người làm việc trong doanh nghiệp nhà nước mà đại diện chủ sở hữu là cơ quan được quy định thực hiện thí điểm chế định luật sư công; được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư để thực hiện các công việc có tính chất pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan nhà nước, cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống chính trị, doanh nghiệp nhà nước theo quy định. Về chế độ, chính sách, ngoài chế độ tiền lương theo quy định của pháp luật, luật sư công được hưởng hỗ trợ hằng tháng và các chế độ, chính sách khác tương tự như đối với cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan thuộc lực lượng vũ trang có vị trí việc làm xây dựng pháp luật, pháp chế theo quy định của Nghị quyết số 197/2025/QH15 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc biệt tạo đột phá trong xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật. Khi tham gia giải quyết vụ, việc có tính chất pháp lý, luật sư công được hưởng bồi dưỡng theo vụ, việc. Mức chi bồi dưỡng trả cho 01 buổi làm việc là 0,5 lần mức lương cơ sở. Ngoài ra, luật sư công được Nhà nước chi trả các khoản phí liên quan đến gia nhập, duy trì tư cách thành viên của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư, được bảo đảm trang thiết bị, phương tiện làm việc để thực hiện nhiệm vụ được giao. Luật sư công có quyền của cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan Quân đội nhân dân, sĩ quan Công an nhân dân, người làm việc trong doanh nghiệp nhà nước; phối hợp với luật sư khác để tham gia tố tụng hoặc bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích của Nhà nước theo sự phân công của cơ quan, tổ chức sử dụng luật sư công. Bên cạnh đó, có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền cho sao chép, cung cấp tài liệu, chứng cứ có liên quan đến việc giải quyết vụ, việc mà cơ quan, tổ chức, cá nhân đó đang lưu giữ, quản lý để phục vụ cho công việc của luật sư công theo quy định của pháp luật. Đặc biệt, có quyền được bảo lưu ý kiến và từ chối thực hiện chỉ đạo trái pháp luật; được miễn trừ trách nhiệm trong trường hợp đã thực hiện đầy đủ các quy trình, quy định liên quan, không tư lợi trong quá trình thực hiện nhiệm vụ nhưng vẫn xảy ra thiệt hại do rủi ro khách quan. Để triển khai Nghị quyết 24/2026/QH16 của Chính phủ, Bộ Tư pháp đã ban hành Công văn số 3073/BTP-BTTP ngày 07/5/2026, trong đó đề nghị các cơ quan thực hiện thí điểm, các cơ quan, tổ chức có liên quan tổ chức phổ biến, quán triệt sâu rộng nội dung của Kết luận số 23 - KL/TW, Nghị quyết số 24/2026/QH16 và các văn bản hướng dẫn thi hành đến cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan lực lượng vũ trang, người làm việc trong doanh nghiệp nhà nước thuộc cơ quan và các đối tượng khác bằng hình thức phù hợp, trọng tâm là làm rõ vị trí, vai trò, tiêu chuẩn và phạm vi công việc của luật sư công trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước và tổ chức chính trị. Bên cạnh đó, cơ quan thực hiện thí điểm chủ động xây dựng Kế hoạch chi tiết để triển khai thí điểm tại đơn vị mình, xác định rõ lộ trình thực hiện ngay từ thời điểm hiện nay đến ngày 30/9/2028, phân công trách nhiệm cụ thể cho các đơn vị chuyên môn trực thuộc trong việc quản lý và sử dụng luật sư công, trong đó lưu ý đến các giải pháp về chuẩn bị nguồn lực để trở thành luật sư công và rà soát nhiệm vụ thuộc phạm vi công việc của luật sư công để sẵn sàng giao việc cho luật sư công từ ngày 01/10/2026. Ngoài ra, căn cứ vào tình hình thực tế, nhu cầu sử dụng luật sư công, cơ quan thực hiện thí điểm xác định cụ thể cơ quan, đơn vị được sử dụng luật sư công, số lượng luật sư công, đồng thời chú trọng đến chất lượng của đội ngũ luật sư công để phát huy hiệu quả việc thực hiện chế định này, tránh chạy theo số lượng gây lãng phí, lợi dụng quy định của pháp luật để hưởng chế độ, chính sách. Thực hiện chỉ đạo của UBND tỉnh Lâm Đồng, ngày 15/5/2026, Sở Tư pháp đã ban hành Công văn số 1526/STP-BTTP đề nghị các sở, ban, ngành và các doanh nghiệp nhà nước thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh tiến hành rà soát đối tượng đáp ứng tiêu chuẩn của luật sư công theo quy định và các vụ việc đang thực hiện hoặc dự kiến phát sinh trong năm 2026 xây dựng phương án về nhân sự cho đội ngũ luật sư công thuộc ngành, lĩnh vực, doanh nghiệp và giải pháp để thực hiện có hiệu quả chế định luật sư công thuộc ngành, lĩnh vực, doanh nghiệp mình quản lý. Đồng thời, dự liệu những khó khăn, vướng mắc có thể có trong quá trình thực hiện Nghị quyết số 24/2026/QH16. Luật sư công là chế định mới chưa từng có tiền lệ và tỉnh Lâm Đồng là 01 trong 10 tỉnh, thành phố được Quốc hội lựa chọn tổ chức thực hiện thí điểm. Việc tổ chức thí điểm chế định luật sư công được kỳ vọng sẽ góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan nhà nước, doanh nghiệp nhà nước, cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống chính trị; đưa chính sách của Đảng và Nhà nước vào cuộc sống, đảm bảo sự tuân thủ pháp luật trong các hoạt động công nói chung, trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng nói riêng./. Nguyễn Trinh – Phòng Bổ trợ tư pháp
09:14 25/05/2026
130
Những điểm mới đáng chú ý của Luật Trợ giúp pháp lý (sửa đổi) năm 2026
Ngày 23/4/2026, tại Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Trợ giúp pháp lý (sửa đổi) năm 2026 với nhiều thay đổi quan trọng liên quan đến đối tượng được trợ giúp pháp lý, tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý cũng như tiêu chuẩn, điều kiện đối với đội ngũ trợ giúp viên pháp lý. Các sửa đổi lần này được đánh giá sẽ góp phần nâng cao hiệu quả tiếp cận công lý và bảo đảm tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, đặc biệt là các nhóm yếu thế trong xã hội. Luật Trợ giúp pháp lý (sửa đổi) năm 2026 bổ sung nhiều quy định mới nhằm mở rộng đối tượng được trợ giúp pháp lý, nâng cao chất lượng đội ngũ trợ giúp viên pháp lý và tăng hiệu quả tiếp cận công lý cho người dân. Mở rộng đáng kể nhóm người được trợ giúp pháp lý Một trong những nội dung đáng chú ý nhất của Luật sửa đổi là việc bổ sung và mở rộng nhóm đối tượng được trợ giúp pháp lý theo hướng bao quát hơn, phù hợp với yêu cầu thực tiễn hiện nay. Nếu như trước đây Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 chủ yếu tập trung vào các nhóm truyền thống như người có công với cách mạng, hộ nghèo, trẻ em, người dân tộc thiểu số ở vùng đặc biệt khó khăn hay người khuyết tật thì Luật sửa đổi năm 2026 đã bổ sung thêm nhiều nhóm đối tượng mới. Đáng chú ý, Luật đã bổ sung “người lao động có thu nhập thấp là người bị buộc tội, bị hại” vào diện được trợ giúp pháp lý. Quy định này được xem là bước tiến quan trọng trong việc bảo đảm quyền tiếp cận công lý của người lao động yếu thế trong các vụ án hình sự. Trên thực tế, nhiều lao động có thu nhập thấp dù không thuộc hộ nghèo nhưng vẫn không đủ khả năng thuê luật sư khi tham gia tố tụng. Việc mở rộng diện hỗ trợ sẽ góp phần bảo đảm tốt hơn quyền bào chữa và quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp cho nhóm đối tượng này. Hoạt động tuyên truyền, đưa các quy định mới của Luật Trợ giúp pháp lý đến gần hơn với nhân dân, đặc biệt là các nhóm đối tượng yếu thế trong xã hội Ngoài ra, Luật cũng bổ sung trường hợp người gặp khó khăn đột xuất do thiên tai hoặc hỏa hoạn được trợ giúp pháp lý trong các vụ việc liên quan trực tiếp đến việc khắc phục hậu quả. Đây là quy định mang tính nhân văn, phù hợp với bối cảnh thiên tai, biến đổi khí hậu và các rủi ro xã hội ngày càng diễn biến phức tạp. Bên cạnh đó, Luật mới còn mở rộng phạm vi trợ giúp pháp lý đối với cá nhân bị thiệt hại theo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong trường hợp họ không thuê người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp. Quy định này góp phần tăng cường cơ chế bảo vệ người dân trong các vụ việc liên quan đến trách nhiệm của cơ quan nhà nước. Đặc biệt, Luật sửa đổi bổ sung quy định mang tính “mở” với nội dung “người được trợ giúp pháp lý khác theo quy định của pháp luật”. Theo các chuyên gia, quy định này tạo cơ sở pháp lý linh hoạt để Nhà nước có thể mở rộng diện được trợ giúp pháp lý trong từng giai đoạn mà không cần sửa đổi toàn bộ Luật. Điều chỉnh điều kiện thành lập Chi nhánh Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước Luật sửa đổi năm 2026 cũng thay đổi cách tiếp cận đối với việc thành lập Chi nhánh của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước. Theo quy định cũ, việc thành lập Chi nhánh chỉ áp dụng tại các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, giao thông không thuận tiện và chưa có tổ chức hành nghề luật sư hoặc tổ chức tư vấn pháp luật tham gia trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, Luật mới đã bỏ các tiêu chí cứng này và quy định theo hướng linh hoạt hơn. Theo đó, việc thành lập Chi nhánh sẽ căn cứ vào điều kiện kinh tế - xã hội và nhu cầu trợ giúp pháp lý tại địa phương, do Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định. Sự thay đổi này được đánh giá là phù hợp với thực tiễn bởi nhu cầu trợ giúp pháp lý giữa các địa phương hiện nay có sự khác biệt lớn. Việc trao quyền chủ động cho địa phương sẽ giúp nâng cao hiệu quả tổ chức mạng lưới trợ giúp pháp lý, bảo đảm khả năng tiếp cận dịch vụ của người dân thay vì phụ thuộc vào các tiêu chí mang tính hành chính như trước đây. Đồng thời, Luật cũng giao Chính phủ quy định cụ thể về trình tự, thủ tục thành lập, giải thể và sáp nhập Chi nhánh nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý cho hoạt động tổ chức bộ máy trong lĩnh vực trợ giúp pháp lý. Siết chặt tiêu chuẩn đối với trợ giúp viên pháp lý Bên cạnh việc mở rộng đối tượng được trợ giúp pháp lý, Luật sửa đổi năm 2026 còn đặt ra yêu cầu cao hơn đối với đội ngũ trợ giúp viên pháp lý nhằm nâng cao chất lượng thực hiện trợ giúp pháp lý trên thực tế. Báo cáo chuyên đề về vai trò của cộng đồng trong việc nâng cao khả năng tiếp cận trợ giúp pháp lý, góp phần tăng cường nhận thức pháp luật, hỗ trợ người dân tiếp cận công lý kịp thời và hiệu quả hơn. Theo quy định mới, tiêu chuẩn đối với trợ giúp viên pháp lý tiếp tục yêu cầu phải có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ cử nhân luật trở lên, được đào tạo nghề luật sư hoặc thuộc diện được miễn đào tạo nghề luật sư. Tuy nhiên, Luật đã sửa đổi theo hướng chặt chẽ hơn về điều kiện tập sự hành nghề. Cụ thể, người được bổ nhiệm trợ giúp viên pháp lý phải hoàn thành thời gian tập sự hành nghề luật sư hoặc tập sự trợ giúp pháp lý, trừ trường hợp đã từng là trợ giúp viên pháp lý. Việc siết chặt điều kiện bổ nhiệm được cho là cần thiết trong bối cảnh yêu cầu về chất lượng tranh tụng, tư vấn và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người dân ngày càng cao. Trợ giúp viên pháp lý hiện không chỉ thực hiện vai trò hỗ trợ pháp luật đơn thuần mà còn tham gia trực tiếp vào quá trình tố tụng, tác động đến quyền con người và quyền công dân. Bổ sung nhiều trường hợp không được bổ nhiệm, cấp thẻ trợ giúp viên pháp lý Luật sửa đổi cũng bổ sung thêm nhiều trường hợp không được bổ nhiệm hoặc cấp thẻ trợ giúp viên pháp lý nhằm tăng cường kiểm soát tiêu chuẩn đạo đức và tư cách pháp lý của người thực hiện trợ giúp pháp lý. Theo đó, ngoài các trường hợp đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc bị xử lý kỷ luật như trước đây, Luật mới còn bổ sung người đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc hoặc cơ sở giáo dục bắt buộc vào diện không được bổ nhiệm. Đồng thời, người đã bị kết án nhưng chưa được xóa án tích đối với một số loại tội phạm nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng cũng không đủ điều kiện được cấp thẻ trợ giúp viên pháp lý. Các quy định này cho thấy xu hướng nâng cao yêu cầu về đạo đức nghề nghiệp và uy tín của đội ngũ trợ giúp viên pháp lý, phù hợp với tính chất đặc thù của hoạt động trợ giúp pháp lý là lĩnh vực liên quan trực tiếp đến bảo vệ công lý và quyền con người. Rút ngắn thời gian miễn nhiệm trợ giúp viên pháp lý Một điểm mới đáng chú ý khác là việc sửa đổi căn cứ miễn nhiệm và thu hồi thẻ trợ giúp viên pháp lý theo hướng chặt chẽ hơn. Theo Luật cũ, trợ giúp viên pháp lý không tham gia vụ việc tố tụng trong thời gian 02 năm liên tục mới bị xem xét miễn nhiệm. Tuy nhiên, Luật sửa đổi đã rút ngắn thời hạn này xuống còn 12 tháng liên tục, trừ trường hợp có nguyên nhân khách quan. Ngoài ra, Luật mới cũng mở rộng thêm các căn cứ miễn nhiệm như trường hợp bị kết án bằng bản án có hiệu lực pháp luật hoặc bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc. Theo giới chuyên gia, việc siết chặt cơ chế miễn nhiệm nhằm bảo đảm đội ngũ trợ giúp viên pháp lý luôn duy trì năng lực chuyên môn, phẩm chất đạo đức và khả năng thực hiện nhiệm vụ trên thực tế. Bổ sung cơ chế miễn nhiệm đương nhiên Đáng chú ý, Luật Trợ giúp pháp lý (sửa đổi) năm 2026 đã bổ sung cơ chế “miễn nhiệm đương nhiên” đối với trợ giúp viên pháp lý trong các trường hợp nghỉ hưu, thôi việc, bị buộc thôi việc hoặc chuyển công tác khác. Theo đó, trong các trường hợp này, thẻ trợ giúp viên pháp lý đương nhiên không còn giá trị sử dụng mà không cần thực hiện thêm các thủ tục hành chính phức tạp như trước. Quy định mới được đánh giá sẽ góp phần đơn giản hóa thủ tục hành chính, giảm áp lực quản lý và bảo đảm tính minh bạch trong hoạt động trợ giúp pháp lý. Có thể thấy, Luật Trợ giúp pháp lý (sửa đổi) năm 2026 đã có nhiều thay đổi theo hướng mở rộng quyền tiếp cận công lý cho người dân đồng thời nâng cao yêu cầu về chất lượng đội ngũ thực hiện trợ giúp pháp lý. Những sửa đổi này được kỳ vọng sẽ tạo chuyển biến tích cực trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, đặc biệt là các nhóm yếu thế trong xã hội. Kim Tân - TTTGPL
09:11 25/05/2026
233
Một số quy định mới về xử phạt trục xuất và quản lý người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam
Vừa qua, Chính phủ ban hành Nghị định số 59/2026/NĐ-CP ngày 13/02/2026 có hiệu lực kể từ ngày 01/4/2026 quy định hình thức xử phạt trục xuất, biện pháp tạm giữ người, áp giải người vi phạm theo thủ tục hành chính và quản lý người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuất. Theo đó, quy định bổ sung thêm 02 trường hợp được hoãn thi hành quyết định xử phạt trục xuất tại khoản 1 Điều 11 Nghị định như sau: “- Người bị áp dụng hình thức xử phạt trục xuất đồng thời là người bị buộc tội, đương sự trong vụ án mà cơ quan điều tra đang thụ lý; - Trường hợp do dịch bệnh, thiên tai, chiến tranh hoặc nước tiếp nhận chưa đồng ý cho nhập cảnh.” Nghị định quy định người có thẩm quyền ra quyết định xử phạt trục xuất có thẩm quyền hoãn thi hành quyết định trục xuất. Bổ sung một số Quyền của người bị áp dụng hình thức xử phạt trục xuất như: Được liên hệ, thông báo với cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của nước mà mình là công dân; Được yêu cầu cơ quan chức năng có thẩm quyền xem xét lại đối với quyết định xử phạt trục xuất theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, Nghị định số 59/2026/NĐ-CP còn quy định trình tự thủ tục chặt chẽ hơn kể từ khi lập hồ sơ, ra quyết định và thi hành Quyết định trục xuất: khi phạt hiện vi phạm người thi hành công vụ phải kịp thời lập Biên bản vi phạm hành chính (Nghị định số 142/2021/NĐ-CP chỉ quy định cơ quan phát hiện vi phạm xét thấy người nước ngoài thực hiện hành vi vi phạm pháp luật đủ điều kiện áp dụng hình thức xử phạt trục xuất, phải gửi tài liệu, tang vật, phương tiện bị tạm giữ (nếu có) liên quan đến vụ vi phạm đến cơ quan quản lý xuất nhập cảnh Công an cấp tỉnh nơi người nước ngoài đăng ký thường trú, tạm trú hoặc nơi xảy ra hành vi vi phạm để lập hồ sơ đề nghị áp dụng hình thức xử phạt trục xuất trong thời hạn 02 ngày làm việc); quy định rõ: “Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được các tài liệu liên quan đến vụ vi phạm, cơ quan quản lý xuất nhập cảnh Công an cấp tỉnh, phòng nghiệp vụ thuộc Cục Quản lý xuất nhập cảnh có trách nhiệm kiểm tra các tài liệu liên quan đến vụ vi phạm; nếu không đủ điều kiện áp dụng hình thức xử phạt trục xuất thì phải thông báo ngay cho cơ quan phát hiện vi phạm biết; nếu đủ điều kiện áp dụng hình thức xử phạt trục xuất thì hoàn thiện hồ sơ đề nghị áp dụng hình thức xử phạt trục xuất theo quy định”. (Nghị định số 142 chỉ quy định cơ quan quản lý xuất nhập cảnh Công an cấp tỉnh, phòng nghiệp vụ thuộc Cục Quản lý xuất nhập cảnh có trách nhiệm hoàn chỉnh hồ sơ đề nghị áp dụng hình thức xử phạt trục xuất); Quyết định xử phạt trục xuất phải được gửi cho người bị trục xuất, các cơ quan, cá nhân liên quan để thi hành và phải được thông báo chậm nhất 48 giờ trước khi thi hành cho Bộ Ngoại giao Việt Nam, cơ quan lãnh sự, cơ quan đại diện ngoại giao của nước mà người bị trục xuất là công dân hoặc nước mà người đó cư trú cuối cùng trước khi đến Việt Nam theo quy định. Nghị định 59/2026/NĐ-CP ban hành có ý nghĩa chuyển hóa quy định mang tính nguyên tắc của Luật thành quy trình nghiệp vụ chặt chẽ, có thời hạn, có trách nhiệm rõ ràng, đồng thời bảo đảm yêu cầu quản lý nhà nước, đảm bảo nhân quyền và đối ngoại trong việc áp dụng hình thức xử phạt trục xuất đối với người nước ngoài vi phạm hành chính tại Việt Nam. Minh Hiền (Phòng Quản lý XLVPHC và TDTHPL)
09:02 15/05/2026
224
Tỉnh Lâm Đồng ban hành chính sách hỗ trợ cán bộ, công chức, viên chức sau sắp xếp đơn vị hành chính
Chính sách hỗ trợ cán bộ, công chức, viên chức và người lao động sau sắp xếp đơn vị hành chính có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong giai đoạn hiện nay. Việc sắp xếp đơn vị hành chính nhằm tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị; tuy nhiên, quá trình này cũng tác động trực tiếp đến điều kiện làm việc, nơi ở, sinh hoạt và tâm lý của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và người lao động. Nhằm kịp thời hỗ trợ, tạo điều kiện để cán bộ, công chức, viên chức và người lao động ổn định công tác sau khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính, ngày 12/5/2026, Hội đồng nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã ban hành Nghị quyết số 17/2026/NQ-HĐND quy định chính sách hỗ trợ đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trên địa bàn tỉnh. Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 đến hết ngày 30/6/2027. Theo Nghị quyết, tỉnh Lâm Đồng thực hiện hỗ trợ đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động thuộc các cơ quan, đơn vị của tỉnh Đắk Nông, Bình Thuận (trước khi sắp xếp) được điều động, bố trí về công tác tại Trung tâm Chính trị - Hành chính tỉnh Lâm Đồng; đồng thời hỗ trợ đối với trường hợp được điều động, biệt phái đến nhận công tác tại cấp xã. Chính sách hỗ trợ tập trung vào các nội dung thiết thực như hỗ trợ tiền thuê chỗ ở, hỗ trợ chi phí đi lại hằng tháng nhằm giảm bớt khó khăn cho cán bộ, công chức, viên chức khi thay đổi nơi làm việc, phải di chuyển xa nơi cư trú hoặc phát sinh thêm chi phí sinh hoạt. Mức hỗ trợ được xác định phù hợp theo từng nhóm đối tượng và khoảng cách di chuyển thực tế. Mức hỗ trợ đối với cán bộ, công chức, viên chức chuyển về Trung tâm Chính trị - Hành chính tỉnh gồm hỗ trợ tiền thuê chỗ ở 3.000.000 đồng/người/tháng và hỗ trợ chi phí đi lại 2.000.000 đồng/người/tháng. Đối với trường hợp điều động, biệt phái đến cấp xã, mức hỗ trợ được tính theo khoảng cách từ nơi ở đến nơi công tác mới; trong đó mức hỗ trợ đi lại cao nhất là 2.000.000 đồng/người/tháng và hỗ trợ thuê chỗ ở 1.000.000 đồng/người/tháng đối với trường hợp có khoảng cách từ 30 km trở lên. Nghị quyết quy định thời gian hỗ trợ tối đa không quá 12 tháng kể từ ngày 01/7/2026 và thực hiện chi trả cùng kỳ lương hằng tháng. Hiện nay, Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng có 45 công chức, viên chức và người lao động được hưởng chính sách hỗ trợ theo Nghị quyết số 17/2026/NQ-HĐND, gồm 36 công chức, 07 viên chức và 02 người lao động. Việc triển khai chính sách hỗ trợ có ý nghĩa quan trọng trong việc ổn định tâm lý, đời sống và điều kiện làm việc của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức sau sắp xếp đơn vị hành chính; chính sách hỗ trợ còn góp phần tạo sự đồng thuận, ổn định tư tưởng, động viên đội ngũ cán bộ yên tâm công tác, tiếp tục phát huy năng lực, trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ được giao. Đây cũng là giải pháp quan trọng nhằm bảo đảm hoạt động của các cơ quan, đơn vị sau sắp xếp diễn ra liên tục, thông suốt, không làm ảnh hưởng đến chất lượng phục vụ người dân và doanh nghiệp. Bên cạnh ý nghĩa về an sinh và động viên tinh thần, chính sách hỗ trợ còn thể hiện tính nhân văn, trách nhiệm của chính quyền địa phương trong quá trình triển khai cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước. Qua đó, góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện chủ trương sắp xếp đơn vị hành chính, xây dựng nền hành chính tinh gọn, hiện đại, hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả. Nguyễn Bích Quyên – Văn phòng Sở
15:02 14/05/2026
742
Ô tô vượt rào chắn đường sắt bị phạt đến 20 triệu đồng, có hiệu lực từ ngày 15/5/2026
Vừa qua, Chính phủ ban hành Nghị định số 81/2026/NĐ-CP ngày 19/3/2026 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường sắt. Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 15/5/2026, Bãi bỏ Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 123/2021/NĐ-CP ngày 28 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hàng hải; giao thông đường bộ, đường sắt; hàng không dân dụng). Nghị định số 81/2026/NĐ-CP gồm 4 chương, 50 điều, quy định đầy đủ các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường sắt; hình thức xử phạt; biện pháp khắc phục hậu quả; thẩm quyền xử phạt; thẩm quyền lập biên bản và tổ chức thi hành quyết định xử phạt. Các hành vi vi phạm được phân nhóm cụ thể như: vi phạm quy định về tín hiệu, quy tắc giao thông đường sắt; vi phạm về kết cấu hạ tầng đường sắt; vi phạm quy định về phương tiện giao thông đường sắt; vi phạm trong hoạt động kinh doanh đường sắt và các hành vi khác có liên quan đến an toàn giao thông đường sắt. Đáng chú ý, Nghị định mới tăng mạnh mức xử phạt đối với nhiều hành vi có nguy cơ cao gây tai nạn giao thông đường sắt, đặc biệt là hành vi điều khiển phương tiện giao thông đường bộ vượt rào chắn, vượt qua đường ngang khi đã có tín hiệu cảnh báo tàu đến. Theo quy định mới, người điều khiển ô tô có hành vi vượt rào chắn đường ngang, vượt qua đường ngang khi đèn đỏ đã bật sáng hoặc chuông báo hiệu đã kêu sẽ bị phạt tiền từ 18 triệu đồng đến 20 triệu đồng. Đây là mức xử phạt cao nhằm tăng tính răn đe đối với hành vi đặc biệt nguy hiểm, thường là nguyên nhân dẫn đến các vụ tai nạn giao thông đường sắt nghiêm trọng trong thời gian qua. Ngoài hành vi vượt rào chắn đường sắt, Nghị định số 81/2026/NĐ-CP còn quy định cụ thể nhiều mức xử phạt đáng chú ý khác đối với tổ chức, cá nhân vi phạm quy định về an toàn giao thông đường sắt. Đối với hành vi đi, đứng, nằm, ngồi hoặc thực hiện các hoạt động khác trái phép trong phạm vi đường sắt, mức phạt có thể áp dụng từ cảnh cáo đến phạt tiền tùy tính chất, mức độ vi phạm. Trường hợp gây ảnh hưởng đến hoạt động chạy tàu hoặc tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn giao thông đường sắt sẽ bị xử phạt nghiêm khắc hơn. Đối với hành vi tự ý mở lối đi qua đường sắt, xây dựng công trình, đặt vật cản, họp chợ, kinh doanh, tập kết vật liệu trái phép trong phạm vi đất dành cho đường sắt, Nghị định quy định mức xử phạt từ vài triệu đồng đến hàng chục triệu đồng, đồng thời buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu hoặc tháo dỡ công trình vi phạm. Trong lĩnh vực kinh doanh đường sắt, Nghị định quy định mức phạt từ 10 triệu đồng đến 20 triệu đồng đối với doanh nghiệp kinh doanh vận tải đường sắt hoặc doanh nghiệp kinh doanh kết cấu hạ tầng đường sắt không bố trí người phụ trách bộ phận tổ chức vận tải, bộ phận an toàn vận tải hoặc bố trí nhưng không đủ điều kiện theo quy định. Trường hợp doanh nghiệp không có bộ phận tổ chức vận tải đường sắt, bộ phận an toàn vận tải đường sắt theo quy định thì bị phạt từ 20 triệu đồng đến 30 triệu đồng. Đối với doanh nghiệp kinh doanh kết cấu hạ tầng đường sắt không có bộ phận chuyên môn quản lý, bảo trì kết cấu hạ tầng; bộ phận điều hành giao thông vận tải đường sắt hoặc bộ phận phụ trách an toàn giao thông đường sắt cũng bị áp dụng mức phạt tương tự. Nghị định cũng quy định xử phạt từ 5 triệu đồng đến 10 triệu đồng đối với hành vi không thực hiện giảm giá vé hoặc giảm giá vé không đúng quy định cho các đối tượng được hưởng chính sách ưu đãi. Đối với các hành vi vi phạm nghiêm trọng hơn như không thực hiện nhiệm vụ vận tải đặc biệt; vi phạm quy định về vận chuyển hàng hóa nguy hiểm; không bảo đảm điều kiện phục vụ hành khách; vi phạm quy định về an toàn chạy tàu, mức xử phạt có thể lên đến 20 triệu đồng hoặc cao hơn tùy hành vi cụ thể. Bên cạnh hình thức xử phạt chính là cảnh cáo và phạt tiền, Nghị định số 81/2026/NĐ-CP còn quy định nhiều hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả như: tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ chuyên môn có thời hạn; đình chỉ hoạt động có thời hạn; buộc tháo dỡ công trình vi phạm; buộc khôi phục hiện trạng ban đầu; buộc thực hiện biện pháp bảo đảm an toàn giao thông đường sắt. Thực tiễn thời gian qua cho thấy, nhiều vụ tai nạn giao thông đường sắt đặc biệt nghiêm trọng xảy ra chủ yếu do ý thức chấp hành pháp luật của một bộ phận người tham gia giao thông còn hạn chế, nhất là hành vi chủ quan cố tình vượt rào chắn, vượt tín hiệu cảnh báo khi tàu sắp đến, đi lại trong hành lang an toàn đường sắt hoặc tự mở lối đi dân sinh trái phép. Vì vậy, việc tăng mức xử phạt đối với các hành vi nguy hiểm là cần thiết nhằm nâng cao tính răn đe, phòng ngừa vi phạm, mang lại sự an toàn cho người tham gia giao thông. Thảo My – Phòng QLXLVPHC & TDTHPL
10:01 14/05/2026
229
Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Chủ tịch UBND các cấp trong lĩnh vực hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình
Vừa qua, Chính phủ ban hành Nghị định 109/2026/NĐ-CP ngày 01/4/2026 về xử phạt vi phạm hành chính trong bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phục hồi, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã. Trong đó, Điều 84 Nghị định quy định về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân (UBND) các cấp, đáng chú ý là thẩm quyền xử lý các vi phạm hành chính trong lĩnh vực hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và bảo vệ quyền lợi của công dân. Thẩm quyền xử phạt của Chủ tịch UBND cấp xã trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình: Theo quy định tại khoản 1 Điều 84 Nghị định 109/2026/NĐ-CP, Chủ tịch UBND cấp xã có quyền trong việc xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình như sau: “Phạt tiền đến 15.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình.” Như vậy, Chủ tịch UBND cấp xã có thẩm quyền khá lớn trong việc xử lý các vi phạm hành chính xảy ra trên địa bàn quản lý. Điều này giúp đảm bảo các hành vi vi phạm trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình được xử lý kịp thời, hiệu quả, góp phần duy trì trật tự, kỷ cương xã hội. Thẩm quyền xử phạt của Chủ tịch UBND cấp tỉnh Theo quy định tại Khoản 2 Điều 84 Nghị định 109/2026/NĐ-CP quy định về thẩm quyền xử phạt của Chủ tịch UBND cấp tỉnh có quyền trong việc xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình như sau: “Phạt tiền đến 30.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình.” So với Chủ tịch UBND cấp xã, thẩm quyền xử phạt của Chủ tịch UBND cấp tỉnh rộng hơn về mức phạt tiền và lĩnh vực áp dụng. Điều này phù hợp với vai trò quản lý nhà nước trên địa bàn rộng lớn hơn và tính chất phức tạp của các hanh vi vi phạm hành chính ở cấp tỉnh. Ngoài ra, liên quan đến lĩnh vực hôn nhân và gia đình, điểm mới nổi bật của Nghị định 109/2026/NĐ-CP đó là tăng mức phạt hành vi ngoại tình. Theo Điều 62 Nghị định 109/2026/NĐ-CP, các hành vi vi phạm về kết hôn, ly hôn và chế độ một vợ, một chồng bị xử phạt theo hai khung chính là: + Phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 10 triệu đồng đối với các hành vi như: đang có vợ hoặc chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác; chung sống với người mà mình biết rõ đã có gia đình; kết hôn hoặc chung sống trái quan hệ gia đình; cản trở kết hôn, ly hôn hoặc yêu sách của cải trong kết hôn. + Phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 20 triệu đồng đối với các hành vi nghiêm trọng hơn như: kết hôn hoặc chung sống cận huyết; cưỡng ép, lừa dối kết hôn hoặc ly hôn; đồng thời áp dụng đối với các hành vi lợi dụng quan hệ hôn nhân để trục lợi Việc tăng mức xử phạt đối với hành vi ngoại tình và các vi phạm liên quan được kỳ vọng sẽ góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân, qua đó bảo vệ các giá trị đạo đức gia đình, giữ gìn và phát huy văn hóa truyền thống, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội. Ảnh hưởng của Nghị định 109/2026/NĐ-CP đến lĩnh vực Hành chính tư pháp và Hôn nhân gia đình Nghị định 109/2026/NĐ-CP là một Nghị định quan trọng, có ảnh hưởng lớn đến lĩnh vực Hành chính tư pháp và Hôn nhân gia đình, ảnh hưởng trực tiếp đến việc xử lý các vi phạm liên quan đến thủ tục hành chính, đăng ký hộ tịch, các vấn đề hôn nhân và gia đình. Việc quy định rõ thẩm quyền của Chủ tịch UBND các cấp giúp tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Do đó việc hiểu và áp dụng đúng quy định này là rất cần thiết. Vì vậy để đảm bảo tính minh bạch, công bằng và hiệu quả trong quá trình thực thi, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng, sự giám sát của cộng đồng và sự tham gia của các tổ chức xã hội, đồng thời cần tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật nâng cao nhận thức của người dân và các tổ chức về các quy định của Nghị định 109/2026/NĐ-CP. Nghị định 109/2026/NĐ-CP của Chính phủ có hiệu lực từ ngày 18 tháng 5 năm 2026 và thay thế Nghị định số 82/2020/NĐ-CP. Nguyễn Hà – Phòng HCTP
16:08 07/05/2026
2007
Triển khai Nghị quyết số 21/2026/NQ-CP của Chính phủ về cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực y tế
Ngày 29/4/2026, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 21/2026/NQ-CP về cắt giảm, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh, thủ tục hành chính và phân cấp thẩm quyền thực hiện thủ tục hành chính trong lĩnh vực y tế. Đây là một trong những giải pháp quan trọng nhằm đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và chất lượng phục vụ Nhân dân. Nghị quyết tập trung vào việc rà soát, loại bỏ những điều kiện kinh doanh không còn phù hợp; đơn giản hóa quy trình, thành phần hồ sơ; rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục hành chính, qua đó giảm chi phí và tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp khi tham gia hoạt động trong lĩnh vực y tế. Một điểm nổi bật của Nghị quyết là tăng cường phân cấp, phân quyền cho địa phương. Theo đó, nhiều thủ tục hành chính được giao cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện, như việc cấp giấy xác nhận nội dung quảng cáo đối với thực phẩm bảo vệ sức khỏe hay tiếp nhận, xử lý hồ sơ liên quan đến nhập khẩu mẫu bệnh phẩm. Việc phân cấp này giúp nâng cao tính chủ động, linh hoạt của địa phương, đồng thời rút ngắn thời gian xử lý công việc. Người dân làm thủ tục hành chính tại Trung tâm phục vụ hành chính công tỉnh Lâm đồng Bên cạnh đó, Nghị quyết cũng yêu cầu chuẩn hóa quy trình, công khai, minh bạch thủ tục hành chính và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong giải quyết hồ sơ, góp phần xây dựng nền hành chính hiện đại, chuyên nghiệp. Để Nghị quyết đi vào cuộc sống, các cơ quan, đơn vị cần tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến đến toàn thể cán bộ, công chức, viên chức, người dân và doanh nghiệp; đồng thời tổ chức triển khai thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ được giao. Mỗi cán bộ, công chức cần nâng cao tinh thần trách nhiệm, chủ động học tập, nắm vững quy định mới để phục vụ tốt hơn nhu cầu của Nhân dân. Việc triển khai hiệu quả Nghị quyết số 21/2026/NQ-CP sẽ góp phần quan trọng trong việc cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, hướng tới mục tiêu phục vụ người dân ngày càng tốt hơn. Võ Luân - PBGDPL
16:24 05/05/2026
319
Những điểm mới đáng chú ý của Nghị định 75/2026/NĐ-CP về cơ chế tự chủ tài chính
Vừa qua, Chính phủ ban hành Nghị định 75/2026/NĐ-CP ngày 16/3/2026 quy định chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về quản lý, sử dụng kinh phí quản lý hành chính, có hiệu lực từ ngày 01/5/2026. Thay vì cơ chế xin - cho, các đơn vị giờ đây được chủ động hơn trong việc phân bổ kinh phí, đặc biệt là cơ chế sử dụng hiệu quả nguồn kinh phí tiết kiệm được. Nghị định quy định rõ ràng hơn các khoản chi thu nhập tăng thêm, thưởng và phúc lợi, tạo động lực thực chất cho cán bộ, công chức, viên chức, người lao động (gọi tắt CB, CC, VC, NLĐ) nâng cao năng suất lao động. Đồng thời, quy trình báo cáo và kiểm soát được số hóa mạnh mẽ, giúp minh bạch hóa mọi khoản chi tiêu công. Đây chính là đòn bẩy để xây dựng một bộ máy hành chính tinh gọn, hiệu quả và liêm chính trong kỷ nguyên mới. So với các quy định trước đây, Nghị định 75/2026/NĐ-CP có nhiều điểm mới quan trọng, góp phần hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính trong khu vực hành chính nhà nước: 1. Mở rộng và cụ thể hóa đối tượng áp dụng: Nghị định quy định rõ hơn phạm vi áp dụng, bao gồm hầu hết các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương, kể cả cấp xã và các tổ chức hành chính có sử dụng ngân sách nhà nước. Đây là bước mở rộng so với trước, bảo đảm bao quát toàn hệ thống hành chính. 2. Quy định chặt chẽ nguyên tắc thực hiện tự chủ: Một điểm mới đáng chú ý là nguyên tắc thực hiện cơ chế tự chủ được cụ thể hóa, yêu cầu không làm tăng kinh phí được giao (trừ trường hợp đặc biệt), đồng thời gắn quyền tự chủ với trách nhiệm của người đứng đầu và yêu cầu sử dụng ngân sách tiết kiệm, hiệu quả, công khai. 3. Bổ sung cơ chế khoán chi và quản lý linh hoạt kinh phí: Nghị định cho phép khoán quỹ tiền lương và chi hoạt động thường xuyên trong phạm vi kinh phí được giao, tạo điều kiện để cơ quan chủ động điều hành chi tiêu phù hợp thực tế. Thủ trưởng cơ quan thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về quyết định định mức chi tiêu. Đây là bước tiến trong việc tăng quyền chủ động tài chính cho đơn vị. 4. Cho phép sử dụng kinh phí tiết kiệm để tăng thu nhập: Một nội dung mới đáng chú ý là cho phép sử dụng phần kinh phí tiết kiệm được để chi bổ sung thu nhập (tiền lương, thưởng) cho CB, CC, VC, NLĐ theo quy định. Hàng quý được tạm chi trước thu nhập tăng thêm tối đa không quá 60% quỹ tiền lương thực tế của CB, CC, NLĐ (không bao gồm các khoản phụ cấp theo lương; các khoản đóng góp theo lương nếu có) do nhà nước quy định trong một quý của cơ quan. Điều này góp phần khuyến khích tiết kiệm và nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách. (Cán bộ, công chức, viên chức, người lao động được hưởng phúc lợi vào các dịp nghỉ lễ trong năm. ảnh: Tâm Nhi) 5. Quy định rõ nguồn kinh phí và phạm vi chi: Nghị định làm rõ nguồn kinh phí thực hiện cơ chế tự chủ gồm ngân sách nhà nước và các nguồn thu hợp pháp khác; đồng thời quy định cụ thể nội dung chi, phạm vi chi nhằm tăng tính minh bạch và dễ thực hiện. 6. Bổ sung trách nhiệm báo cáo, kiểm tra và giám sát: Các cơ quan phải thực hiện chế độ báo cáo định kỳ về kết quả thực hiện cơ chế tự chủ; Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan tăng cường kiểm tra, giám sát, bảo đảm việc sử dụng kinh phí đúng quy định. Nghị định 75/2026/NĐ-CP thay thế Nghị định 130/2005/NĐ-CP và Nghị định 117/2013/NĐ-CP, tạo khung pháp lý mới đồng bộ, phù hợp với Luật Ngân sách nhà nước và yêu cầu cải cách tài chính công hiện nay. Tâm Nhi – VP Sở
08:31 29/04/2026
1827
Tổ chức triển khai thực hiện đầy đủ, thống nhất các quy định của Nghị định số 109/2026/NĐ-CP trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng
Vừa qua, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 109/2026/NĐ-CP ngày 01/4/2026 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phục hồi, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã. Để việc triển khai thực hiện Nghị định được kịp thời, thống nhất, Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng đã ban hành Công văn số 1178/STP-BTTP ngày 16/4/2026 gửi các Sở, ban, ngành; Ủy ban nhân dân các xã, phường, đặc khu; Đoàn Luật sư tỉnh Lâm Đồng; Hội Công chứng viên tỉnh Lâm Đồng; Hội Luật gia tỉnh Lâm Đồng; các tổ chức hành nghề công chứng, luật sư, đấu giá tài sản, thừa phát lại trên địa bàn tỉnh trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao tổ chức quán triệt, phổ biến và triển khai đầy đủ, đúng quy định các nội dung của Nghị định số 109/2026/NĐ-CP. Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 18/5/2026 và thay thế Nghị định số 82/2020/NĐ-CP ngày 15/7/2020 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 117/2024/NĐ-CP ngày 18/9/2024 của Chính phủ). Theo đó, Nghị định số 109/2026/NĐ-CP có nhiều điểm mới nổi bật như, mở rộng thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp với phạm vi khá rộng. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền phạt đến 25.000.000 đồng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền phạt đến 50.000.000 đồng (Điều 84), Giám đốc Sở Tư pháp có thẩm quyền phạt đến 40.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp (Điều 85). Không chỉ dừng lại ở hình thức xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền, Chủ tịch UBND cấp xã còn có quyền đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề, trong đó bao gồm cả chứng chỉ hành nghề luật sư, thẻ công chứng viên và thẻ cộng tác viên trợ giúp pháp lý; tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định. Ngoài ra, Nghị định quy định khá chi tiết các hành vi vi phạm trong hoạt động hành nghề trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp cùng với các mức xử phạt tương ứng; bổ sung các quy định mới về hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, mức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả. Đối với hoạt động luật sư, các hành vi như hành nghề luật sư khi không có chứng chỉ hành nghề luật sư hoặc chưa gia nhập Đoàn luật sư; tự mình hoặc giúp khách hàng thực hiện những hành vi vi phạm pháp luật nhằm trì hoãn, kéo dài thời gian hoặc gây khó khăn, cản trở hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng và các cơ quan nhà nước khác có thể bị xử phạt đến 30.000.000 đồng. Đặc biệt, các hành vi mang tính gian dối hoặc cản trở hoạt động tố tụng như cung cấp tài liệu giả, xúi giục khách hàng khai sai sự thật, tiết lộ thông tin vụ việc hoặc móc nối với người tiến hành tố tụng có thể bị xử phạt lên đến 40.000.000 đồng (Điều 8). Người dân thực hiện các giao dịch dân sự tại Văn phòng công chứng Trong hoạt động công chứng, các hành vi vi phạm liên quan đến tổ chức và hoạt động như mở chi nhánh ngoài trụ sở hoặc hoạt động khi chưa hoàn tất thủ tục pháp lý có thể bị phạt từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng. Đối với các vi phạm đặc biệt nghiêm trọng, như không vào sổ công chứng đối với hồ sơ đã được công chứng; thay đổi trụ sở của Văn phòng công chứng không đúng quy định; thuê người không phải Trưởng Văn phòng công chứng điều hành hoặc cho thuê Văn phòng công chứng theo loại hình doanh nghiệp tư nhân; cho người không đủ điều kiện hành nghề công chứng hoặc công chứng viên đang bị tạm đình chỉ hành nghề công chứng thực hiện việc công chứng, chứng thực tại tổ chức mình mức phạt cao nhất lên tới 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng (Điều 17). Trong hoạt động đấu giá, các hành vi vi phạm quy định về hoạt động của tổ chức hành nghề đấu giá tài sản như để lộ thông tin về người đăng ký tham gia đấu giá; sử dụng tiền đặt trước của người tham gia đấu giá vào bất kỳ mục đích nào khác; thực hiện đấu giá trong trường hợp chỉ có một người đăng ký tham gia đấu giá, một người tham gia đấu giá, một người trả giá không đúng quy định có thể bị xử phạt đến 40.000.000 đồng (Điều 30)… Việc ban hành Nghị định số 109/2026/NĐ-CP ngày 01/4/2026 sẽ góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước đối với lĩnh vực bổ trợ tư pháp; tạo khuôn khổ pháp lý thống nhất, điều chỉnh toàn diện từ điều kiện hành nghề đến trách nhiệm pháp lý của luật sư, công chứng viên, đấu giá viên, giám định viên tư pháp nói chung và trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng nói riêng. Trong quá trình triển khai thực hiện, nếu phát sinh khó khăn, vướng mắc các cơ quan, tổ chức có thể phản ánh kịp thời về Sở Tư pháp để được hướng dẫn thực hiện theo đúng quy định. Nguyễn Trinh – Phòng Bổ trợ tư pháp
14:27 24/04/2026
478
Trang
1234567
Liên kết
Thống kê truy cập
  • Đang online: 52
  • Hôm nay: 3937
  • Trong tuần: 27108
  • Trong tháng: 77521
  • Tổng truy cập: 188896