Đánh giá két quả triển khai thực hiện công tác tái hòa nhập cộng đồng trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng

10:39 09/04/2026

Trong thời gian qua, Ủy ban Mặt trân Tổ quốc Việt Nam tỉnh, UBND tỉnh và UBND các xã, phường, đặc khu trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng đã triển khai thực hiện nghiêm túc Nghị định số 49/2020/NĐ-CP ngày 17/4/2020 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thi hành án hình sự về tái hòa nhập cộng đồng (THNCĐ) và Quyết định số 22/2023/QĐ-TTg ngày 17/3/2023 của Thủ tướng Chính phủ về tín dụng đối với người chấp hành xong án phạt tù. Trong đó, Công an tỉnh Lâm Đồng đã chủ động, phát huy được vai trò nòng cốt, chủ trì thực hiện Nghị định số 49/2020/NĐ-CP nói riêng và công tác THNCĐ nói chung. Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, các cơ quan, đơn vị, chính quyền địa phương đã triển khai các nội dung công tác THNCĐ, từ khâu xây dựng, nghiên cứu, ban hành cơ chế, chính sách, pháp luật; thông tin, truyền thông, tuyên truyền; tăng cường chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn; nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quản lý, giám sát, giáo dục, giúp đỡ người chấp hành xong án phạt tù, tạo điều kiện cho họ được vay vốn, tạo việc làm… giúp họ có những điều kiện thuận lợi để THNCĐ thành công. Hội nghị Tổng kết 5 năm thực hiên Nghị định số 49/2020/NĐ-CP của Chính phủ về công tác tái hòa nhập cộng đồng. Sau 05 năm thực hiện Nghị định số 49/2020/NĐ-CP và 02 năm thực hiện Quyết định số 22/2023/QĐ-TTg, tỷ lệ tái phạm tội thời gian qua từ năm 2020 đến năm 2020 là dưới 2%, đã góp phần quan trọng vào công tác phòng ngừa, đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo đảm an ninh trật tự, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, công tác THNCĐ trong thời gian qua cũng bộc lộ những hạn chế, tồn tại như: Công tác hướng nghiệp, dạy nghề cho phạm nhân tại các cơ sở giam giữ còn hạn chế, mới chủ yếu ở mức trình độ lao động thủ công, phổ thông, chưa đáp ứng được với yêu cầu về trình độ, tay nghề cao của thị trường lao động hiện nay; Công tác quản lý, giám sát, giáo dục, giúp đỡ đối với người chấp hành xong án phạt tù chưa đạt hiệu quả cao, chủ yếu mới tập trung ở khâu “quản lý” để nắm người mà chưa thực sự có những biện pháp “giáo dục, giúp đỡ” thực chất, hiệu quả, chưa thực sự quan tâm sâu sát, chưa nắm được tâm tư nguyện vọng của đa số người chấp hành xong án phạt tù để tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý, hướng dẫn, đào tạo nghề, giới thiệu, giải quyết việc làm, hỗ trợ vốn để sản xuất kinh doanh…; Sự phối hợp giữa các ban, ngành, đoàn thể, tổ chức xã hội trong tổ chức thực hiện công tác này có thời điểm còn chưa chặt chẽ, thường xuyên, vẫn còn nhận thức cho rằng đó là trách nhiệm của lực lượng công an, phó mặc hoàn toàn cho lực lượng công an; Một số UBND, công an cấp xã còn chưa thực sự quan tâm, quyết liệt trong lãnh đạo, chỉ đạo việc tiếp nhận, quản lý, giám sát, giáo dục, giúp đỡ người chấp hành xong án phạt tù THNCĐ; Việc thực hiện công tác THNCĐ vẫn theo phương thức thủ công, chưa ứng dụng khoa học công nghệ nên chưa quản lý, nắm chắc được toàn diện tình hình, thông tin người chấp hành xong án phạt tù để tham mưu ban hành cơ chế, chính sách, pháp luật hiệu quả. Toàn cảnh Hội nghị trực tuyến - Điểm cầu tại Tỉnh Lâm Đồng Nguyên nhân dẫn đến những hạn chế, tồn tại là do quy định chính sách, pháp luật về THNCĐ chưa hoàn thiện, một số quy định còn chung chung, chưa quy định rõ trách nhiệm phối hợp, chưa có chế tài cụ thể, không phù hợp với tình hình hiện nay; Chưa có sự tham gia sâu, rộng của các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể và cộng đồng xã hội, vẫn còn tình trạng phân biệt đối xử, xa lánh với người chấp hành xong án phạt tù, các cơ sở sản xuất kinh doanh e ngại việc tiếp nhận người chấp hành xong án phạt tù vào làm việc. Lãnh đạo UBND, Công an một số địa phương còn coi nhẹ công tác này, tình trạng phó mặc hoàn toàn cho lực lượng công an còn phổ biến; Bản thân người chấp hành xong án phạt tù còn có những hạn chế: Mặc cảm xã hội, tự ti với bản thân, lười lao động, không chủ động tìm kiếm việc làm, hoàn cảnh gia đình khó khăn, trình độ văn hóa thấp, không có nghề nghiệp hoặc có nghề nghiệp thì đa phần là lao động phổ thông chưa đáp ứng được các điều kiện của các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kih doanh; Các điều kiện hộ trợ tái hòa nhập còn hạn chế, nhất là về kinh phí, trang thiết bị, ứng dụng khoa học kỹ thuật… Công tác THNCĐ là nhiệm vụ quan trọng trong thực hiện chính sách nhân văn của Đảng và Nhà nước ta, góp phần phòng, chống tội phạm, đảm bảo an ninh trật tự và phát triển kinh tế - xã hội. Nhằm nâng cao hiệu quả công tác THNCĐ đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới, các cấp, các ngành cần đổi mới, nâng cao hiệu quả THNCĐ theo phương châm lấy người chấp hành xong án phạt tù vừa là trung tâm, vừa là chủ thể, mục tiêu của công tác THNCĐ; xác định công tác THNCĐ có vị trí, vai trò, ý nghĩa rất quan trọng trong thực hiện chính sách nhân văn, nhân đạo và khoan hồng của Đảng, Nhà nước, góp phần quan trọng trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, đảm bảo trật tự an toàn xã hội và phát triển kinh tế xã hội của từng địa phương cũng như trên cả nước; Tập trung hoàn thiện cơ chế, chính sách pháp luật về THNCĐ, trọng tâm xây dựng Nghị định thay thế Nghị định số 49/2020/NĐ-CP và sửa đổi Quyết định số 22/2023/QĐ-TTg đảm bảo phù hợp với quy định của Luật Thi hành án hình sự năm 2025 và đáp ứng yêu cầu thực tiễn, nghiên cứu, ban hành cơ chế, chính sách về hỗ trợ đào tạo nghề, tìm kiếm việc làm cho người chấp hành xong án phạt tù; Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy Đảng, chính quyền, các ngành, đoàn thể và toàn xã hội bằng cách tăng cường, đổi mới hoạt động thông tin, truyền thông, tuyên truyền về THNCĐ, nhất là trên không gian mạng, chú trọng tuyên truyền về chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước để nâng cao nhận thức, trách nhiệm, tạo sự đồng thuận cao trong hệ thống chính trị và quần chúng Nhân dân. Đồng thời, trong thời gian tới cần biểu dương những điển hình tiên tiến, gương người tốt, việc tốt để phát huy, nhân rộng, lan tỏa, chia sẻ, khắc phục những khó khăn, vướng mắc, bất cập trong thực hiện công tác THNCĐ trên địa bàn toàn tỉnh ./. Tường Vy - Phòng PBGDPL

Những điểm mới nổi bật của nghị định số 65/2026/NĐ-CP về quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản
Vừa qua, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 65/2026/NĐ-CP ngày 28/02/2026 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phục hồi, phá sản về Quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản. Đây là văn bản quy phạm pháp luật quan trọng nhằm hoàn thiện khung pháp lý cho hoạt động hành nghề của Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản; góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước liên quan đến hoạt động hành nghề quản lý, thanh lý tài sản. Tọa đàm lấy ý kiến về dự thảo Nghị định Sau đây là một số nội dung mới nổi bật của Nghị định số 65/2026/NĐ-CP: Quy định về tiêu chuẩn, điều kiện cấp chứng chỉ hành nghề Quản tài viên (Điều 5) Các đối tượng được cấp Chứng chỉ hành nghề Quản tài viên bao gồm: Luật sư; Kiểm toán viên; Người có trình độ cử nhân luật, kinh tế, kế toán, tài chính, ngân hàng và có ít nhất 05 năm kinh nghiệm công tác trong lĩnh vực được đào tạo. Điểm mới là yêu cầu bắt buộc phải hoàn thành khóa bồi dưỡng nghề Quản tài viên trước khi được cấp chứng chỉ, nhằm đảm bảo tính chuyên môn đặc thù trong lĩnh vực hành nghề quản lý, thanh lý tài sản. Quy định về hình thức hành nghề của Quản tài viên (Điều 12) Theo đó, Quản tài viên có quyền lựa chọn một trong hai hình thức hành nghề: Hành nghề với tư cách cá nhân và phải thực hiện đăng ký tại Sở Tư pháp nơi người đó muốn hành nghề. Hành nghề trong doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản thông qua việc thành lập hoặc tham gia thành lập hoặc làm việc theo hợp đồng cho doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản (được tổ chức dưới loại hình Công ty hợp danh hoặc Doanh nghiệp tư nhân theo quy định). Quy định này tạo điều kiện linh hoạt cho Quản tài viên trong việc lựa chọn mô hình hành nghề phù hợp với năng lực và điều kiện thực tế. Quy định nghĩa vụ bồi dưỡng nghiệp vụ Quản tài viên hằng năm (Điều 15) Để cập nhật kiến thức pháp luật và kỹ năng xử lý tài sản, Nghị định quy định Quản tài viên phải tham gia bồi dưỡng nghiệp vụ hằng năm với thời gian tối thiểu là 01 ngày làm việc (08 giờ/năm). Quản tài viên được tính là hoàn thành nghĩa vụ tham gia bồi dưỡng nghiệp vụ Quản tài viên trong năm nếu thuộc một trong các trường hợp: là thành viên Tổ soạn thảo, Hội đồng thẩm định văn bản quy phạm pháp luật về phục hồi, phá sản hoặc quản lý, thanh lý tài sản; Tham gia giảng dạy, làm báo cáo viên trong các chương trình tập huấn, hội thảo, tọa đàm, tham gia tuyên truyền, phổ biến pháp luật trên các phương tiện thông tin đại chúng về phục hồi, phá sản hoặc quản lý, thanh lý tài sản; Tham gia Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ trở lên về phục hồi, phá sản hoặc quản lý, thanh lý tài sản. Việc tuân thủ nghĩa vụ bồi dưỡng không chỉ là trách nhiệm pháp lý mà còn là điều kiện để duy trì tư cách hành nghề, góp phần xây dựng đội ngũ Quản tài viên chuyên nghiệp, đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Quy định về chi phí cho Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản (Điều 21) Chi phí Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản bao gồm thù lao Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản và chi phí khác. Chi phí Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản được thanh toán từ giá trị tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc do ngân sách nhà nước bảo đảm theo quy định của Luật Phục hồi, phá sản. Cơ chế xác định chi phí cho người hành nghề đã được cụ thể hóa tại Nghị định số 65/2026/NĐ-CP, nhằm đảm bảo quyền lợi tương xứng với trách nhiệm. Thù lao của Quản tài viên hiện nay được tính linh hoạt dựa trên thời gian làm việc, mức trọn gói hoặc tỷ lệ phần trăm tổng giá trị tài sản thu hồi được. Đáng chú ý, biểu phí phần trăm được quy định rất chi tiết, dao động từ 10% đối với tài sản dưới 100 triệu đồng đến mức thù lao tính theo bậc cho các tài sản trị giá trên 50 tỷ đồng. Để bảo vệ quyền lợi tối thiểu, pháp luật đảm bảo mức thù lao không thấp hơn 1,5 tháng lương cho mỗi tháng tham gia vụ việc. Bên cạnh đó, nhằm hỗ trợ nguồn lực hoạt động, Thẩm phán sẽ quyết định mức tạm ứng chi phí với mức tối thiểu không thấp hơn 10 tháng lương. Toàn bộ thù lao và các chi phí hợp lý khác như đi lại, lưu trú, thuê nhân sự hỗ trợ sẽ được ưu tiên thanh toán từ giá trị tài sản của doanh nghiệp, giúp Quản tài viên an tâm thực hiện nhiệm vụ quản lý và giám sát tài sản một cách khách quan, hiệu quả. Quy định này nhằm bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người hành nghề tương xứng với khối lượng, tính chất công việc; đồng thời tăng cường tính minh bạch trong quá trình giải quyết phá sản. Việc ban hành Nghị định số 65/2026/NĐ-CP được kỳ vọng sẽ tạo hành lang pháp lý đồng bộ, minh bạch cho hoạt động hành nghề của Quản tài viên; góp phần nâng cao hiệu quả giải quyết phá sản, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan./. Mỹ Oanh - Phòng Bổ trợ tư pháp
08:33 27/03/2026
183
Các trường hợp được hoãn thi hành án dân sự
Hiện nay, pháp luật chưa có quy định cụ thể về khái niệm “hoãn thi hành án dân sự. Tuy nhiên, có thể hiểu, hoãn thi hành án dân sự là việc chuyển thời điểm đã định thi hành bản án hoặc quyết định của Tòa án sang thời điểm khác muộn hơn. Vậy, những trường hợp nào thì được hoãn thi hành án dân sự? Theo quy định tại khoản 1 Điều 46 Luật Thi hành án dân sự năm 2025 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2026) thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định hoãn một phần hoặc toàn bộ việc thi hành án trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày có một trong các căn cứ sau đây: - Nghĩa vụ gắn liền với nhân thân của người phải thi hành án hoặc pháp luật quy định nghĩa vụ không được chuyển giao mà người phải thi hành án bị bệnh hiểm nghèo, có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp cơ bản trở lên theo quy định của pháp luật. - Nghĩa vụ gắn liền với nhân thân của người phải thi hành án hoặc pháp luật quy định nghĩa vụ không được chuyển giao mà chưa xác định được địa chỉ của người phải thi hành án. - Đương sự thỏa thuận bằng văn bản về việc hoãn thi hành án hoặc người được thi hành án có văn bản đề nghị hoãn thi hành án, trừ trường hợp yêu cầu hoãn thi hành án làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba; trong thời gian hoãn thi hành án thì người phải thi hành án không phải chịu lãi chậm thi hành án, trừ trường hợp đương sự có thỏa thuận khác. - Nhận được thông báo thụ lý của Tòa án về việc giải quyết yêu cầu xác định, phân chia, giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất, trừ trường hợp tài sản đó đã được bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật tuyên kê biên, xử lý, công nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc trường hợp người phải thi hành án có tài sản, thu nhập khác để thi hành án. - Nhận được thông báo thụ lý của Tòa án về việc giải quyết yêu cầu hủy kết quả đấu giá, yêu cầu hủy hợp đồng mua bán tài sản đấu giá hoặc giải quyết tranh chấp về hợp đồng mua bán tài sản đấu giá. - Nhận được quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế đối với tài sản thi hành án của cơ quan tiến hành tố tụng để phục vụ điều tra, truy tố, xét xử, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. - Đang trong thời hạn cơ quan có thẩm quyền sửa chữa, bổ sung, giải thích bản án, quyết định hoặc đang thực hiện tương trợ tư pháp về dân sự theo quy định của pháp luật. - Đang trong thời hạn cơ quan có thẩm quyền trả lời kiến nghị của cơ quan thi hành án dân sự về việc xem xét lại bản án, quyết định theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm. - Người được nhận tài sản, người được giao nuôi dưỡng đã được thông báo hợp lệ 02 lần về việc nhận tài sản, nhận người được nuôi dưỡng nhưng không đến nhận. - Việc chuyển giao quyền và nghĩa vụ thi hành án theo quy định của pháp luật chưa thực hiện được vì tình trạng khẩn cấp, trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng. - Nhận được thông báo thụ lý của Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền về việc giải quyết đề nghị xem xét lại quyết định công nhận kết quả hòa giải thành hoặc hủy phán quyết, quyết định sau: Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, Hội đồng xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh, quyết định giải quyết khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, Hội đồng giải quyết khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh có liên quan đến tài sản của bên phải thi hành theo quy định của Luật Cạnh tranh; Phán quyết trọng tài, quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Hội đồng trọng tài theo quy định của Luật Trọng tài thương mại; Quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng bồi thường thiệt hại của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân theo quy định của Luật Tư pháp người chưa thành niên; Bản án, quyết định khác được thi hành theo quy định của pháp luật). Việc nắm vững các quy định về hoãn thi hành án dân sự không chỉ giúp các đương sự chủ động trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình mà còn góp phần đảm bảo tính nhân văn, khách quan trong quá trình thực thi pháp luật. Một hệ thống thi hành án nói chung và thi hành án dân sự nói riêng minh bạch và đúng quy trình chính là nền tảng để bảo vệ trật tự kỷ cương xã hội và niềm tin của nhân dân vào công lý. Hoàng Oanh
16:36 25/03/2026
162
Góp ý hồ sơ chính sách Luật Đấu giá tài sản (sửa đổi)
Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong xử lý tài sản công, thời gian qua, nhiều văn kiện của Đảng, Nhà nước đã xác định chủ trương, định hướng về hoàn thiện thể chế, đổi mới, nâng cao hiệu quả, chất lượng hoạt động bổ trợ tư pháp nói chung, trong đó có hoạt động đấu giá tài sản, phục vụ hiệu quả cho việc phát triển kinh tế - xã hội; Bộ Tư pháp đã xây dựng hồ sơ chính sách dự án Luật Đấu giá tài sản (sửa đổi) và gửi các cơ quan, đơn vị có liên quan nghiên cứu, tham gia ý kiến nhằm đảm bảo tiến độ xây dựng văn bản. Ngày 20/3/2026, Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng đã tham gia góp ý hồ sơ chính sách Luật Đấu giá tài sản (sửa đổi), theo đó những ý kiến, kiến nghị của Sở Tư pháp tập trung vào việc tháo gỡ một số bất cập đang trực tiếp gây khó khăn cho công tác quản lý nhà nước tại địa phương, với các nội dung cụ thể như sau: 1. Kiến nghị làm rõ cơ chế vận hành đối với Sàn đấu giá tài sản công Liên quan đến quy định về “Sàn đấu giá tài sản công do Bộ Công an xây dựng”, Sở Tư pháp đề nghị Bộ Tư pháp cần bổ sung đánh giá cụ thể về sự cần thiết, cơ sở pháp lý và tác động của việc hình thành sàn này. Đặc biệt, cần làm rõ cơ chế chia sẻ thông tin giữa hệ thống này với Cổng Đấu giá tài sản quốc gia và xác định rõ thẩm quyền quản lý nhà nước của địa phương đối với các giao dịch diễn ra trên sàn. 2.Chấm dứt tình trạng mua bảo hiểm nghề nghiệp “tùy nghi” Từ thực tế quản lý, Sở Tư pháp nhận định quy định hiện hành về bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của đấu giá viên còn chung chung, dẫn đến việc các tổ chức hành nghề thực hiện mang tính đối phó. Nhằm đảm bảo quyền lợi hợp pháp của đấu giá viên, Sở kiến nghị cần bổ sung nguyên tắc về mức bảo hiểm tối thiểu ngay trong Luật hoặc giao Chính phủ quy định chi tiết về mức phí và số tiền bảo hiểm tối thiểu phù hợp với từng loại hình doanh nghiệp. 3. Đề xuất áp dụng Quy chế cuộc đấu giá theo mẫu thống nhất Một trong những bất cập lớn hiện nay là tình trạng các tổ chức hành nghề tự ban hành quy chế với những điều kiện làm hạn chế người tham gia, như: thời gian xem tài sản quá ngắn, địa điểm nộp hồ sơ khó tiếp cận, hoặc tự ý đặt ra các tiêu chí đánh giá năng lực trái quy định. Để khắc phục, Sở kiến nghị Bộ Tư pháp ban hành Quy chế cuộc đấu giá theo mẫu bắt buộc áp dụng thống nhất. Các tổ chức hành nghề chỉ được bổ sung các chi tiết đặc thù nhưng không được trái với quy chế khung này. 4. Liên quan đến việc tự ý “đặt thêm” điều kiện tham gia đấu giá Mặc dù Luật Đấu giá tài sản hiện hành đã có quy định về điều kiện tham gia đấu giá, nhưng thực tế vẫn ghi nhận tình trạng tổ chức đấu giá yêu cầu thêm các loại giấy tờ làm sai lệch bản chất hoạt động đấu giá. Sở Tư pháp kiến nghị sửa đổi Luật theo hướng: Tổ chức hành nghề chỉ được yêu cầu các giấy tờ khi pháp luật chuyên ngành (như Luật Đất đai, Luật Địa chất và Khoáng sản...) có quy định cụ thể. Trường hợp pháp luật chuyên ngành không quy định, tổ chức đấu giá tuyệt đối không được tự ý đặt thêm các loại giấy tờ “xác nhận” khác làm khó người dân. 5. Đảm bảo hệ thống pháp luật thông suốt qua điều khoản chuyển tiếp Để tránh khoảng trống pháp lý hoặc xung đột giữa luật cũ và luật sửa đổi, Sở Tư pháp đề nghị xây dựng các điều khoản chuyển tiếp đủ chi tiết. Đặc biệt cần chú trọng xử lý các cuộc đấu giá đang diễn ra hoặc trường hợp đã trúng đấu giá nhưng chưa hoàn tất nghĩa vụ tài chính tại thời điểm luật mới có hiệu lực. Những ý kiến đóng góp của Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng xuất phát từ thực tiễn quản lý tại địa phương với mục tiêu cao nhất là nâng cao chất lượng hoạt động đấu giá, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của Nhà nước và nhân dân, đồng thời hạn chế tối đa tình trạng tiêu cực, gây thất thoát tài sản. Với những thay đổi về cơ chế, chính sách trong việc xây dựng dự thảo Luật Đấu giá tài sản, Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng kỳ vọng luật mới (sửa đổi) sẽ tháo gỡ được những bất cập hiện nay trong triển khai thực hiện công tác đấu giá tài sản công tại địa phương./. Mỹ Oanh - Phòng Bổ trợ tư pháp
16:21 23/03/2026
110
Những điểm mới trong Nghị định 58/2026/NĐ-CP: cắt giảm tối đa thủ tục cho người dân
Từ ngày 15/3/2026, Nghị định 58/2026/NĐ-CP của Chính phủ chính thức có hiệu lực thi hành, trong đó sửa đổi, bổ sung một số quy định về việc thực hiện Luật Căn cước. Với những sửa đổi mang tính đột phá, Nghị định không chỉ cắt giảm các loại giấy tờ rườm rà mà còn tối ưu hóa quyền lợi cho người dân trên môi trường số. Mở rộng trách nhiệm của công an xã Một trong những điểm mới đáng chú ý của Nghị định 58/2026/NĐ-CP là mở rộng trách nhiệm của công an cấp xã trong thu thập, cập nhật và khai thác dữ liệu dân cư, phù hợp với mô hình tổ chức bộ máy mới khi không còn công an cấp huyện. Theo đó, công an cấp xã nơi công dân cư trú có trách nhiệm thu thập, cập nhật thông tin công dân vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư từ nhiều nguồn như giải quyết thủ tục cư trú, sổ sách quản lý cư trú, hồ sơ tàng thư và từ việc cấp, cấp đổi, cấp lại thẻ căn cước. Nghị định 58/2026/NĐ-CP làm rõ cơ chế điều chỉnh thông tin trong cơ sở dữ liệu khi công dân phát hiện thông tin do mình cung cấp có sai sót hoặc thay đổi. Khi đó, công dân đề nghị công an cấp xã thực hiện điều chỉnh theo trình tự, thủ tục quy định. Nghị định cũng mở rộng phạm vi xác lập số định danh cá nhân ngay từ khâu đăng ký khai sinh, bao gồm cả trường hợp ghi vào sổ hộ tịch việc khai sinh đã đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài. Số chứng minh nhân dân 9 số, số định danh cá nhân đã hủy vẫn được tích hợp trong ứng dụng VneID Nghị định 58/2026/NĐ-CP nêu rõ thông tin số chứng minh nhân dân 9 số, số định danh cá nhân đã hủy được mã hóa, tích hợp trong mã QR trên thẻ căn cước, trong bộ phận lưu trữ của thẻ căn cước, trên Ứng dụng định danh quốc gia (VNeID). Cơ quan, tổ chức, cá nhân quét mã QR trên thẻ căn cước, khai thác thông tin trong bộ phận lưu trữ của thẻ căn cước, khai thác thông tin trên Ứng dụng định danh quốc gia (VNeID) và sử dụng thông tin số chứng minh nhân dân 9 số, số định danh cá nhân đã hủy truy xuất được qua mã QR, trong bộ phận lưu trữ của thẻ căn cước, khai thác thông tin trên Ứng dụng định danh quốc gia (VNeID) để phục vụ giải quyết thủ tục hành chính, dịch vụ công, các giao dịch và hoạt động khác; không được yêu cầu công dân phải cung cấp xác nhận số chứng minh nhân dân 9 số, số định danh cá nhân đã hủy. Trình tự, thủ tục cấp, cấp đổi, cấp lại thẻ căn cước Theo quy định được sửa đổi, đối với trường hợp người dưới 6 tuổi đề nghị cấp, cấp đổi, cấp lại thẻ Căn cước; công dân đề nghị cấp lại do mất thẻ, thẻ hư hỏng không sử dụng được hoặc cấp đổi do thay đổi địa giới hành chính thông qua Cổng dịch vụ công quốc gia hoặc ứng dụng VneID. Kết quả tích hợp được thông báo khi trả thẻ Căn cước cho công dân. Công dân hoặc người đại diện hợp pháp thực hiện thanh toán lệ phí tích hợp, cập nhật, điều chỉnh thông tin trên thẻ và phí dịch vụ chuyển phát theo quy định của pháp luật về phí và lệ phí. Việc ban hành Nghị định số 58/2026/NĐ-CP góp phần hoàn thiện các quy định pháp luật trong lĩnh vực căn cước, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân trong quá trình thực hiện các thủ tục hành chính, đồng thời nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về an ninh, trật tự. Đinh Trúc - PBGDPL
16:22 21/03/2026
640
Những điểm mới của luật an ninh mạng năm 2025
Trong thời đại chuyển đổi số phát triển mạnh mẽ, không gian mạng trở thành môi trường quan trọng gắn liền với mọi hoạt động của đời sống xã hội các nguy cơ về tội phạm mạng, lừa đảo trực tuyến, xâm phạm dữ liệu cá nhân và các hành vi vi phạm pháp luật ngày càng tinh vi và phức tạp. Để đáp ứng tình hình hiện nay, Quốc hội đã ban hành Luật An ninh mạng năm 2025, thay thế và bổ sung nhiều nội dung so với Luật năm 2018. Luật mới không chỉ quy định cơ chế chính sách nhằm bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội trên không gian mạng mà còn tạo hành lang pháp lý rõ ràng, giúp tổ chức, doanh nghiệp và người dân tham gia môi trường mạng an toàn, hiệu quả hơn. Luật An ninh mạng năm 2025 gồm 08 chương, 45 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026. So với Luật cũ, Luật mới đã có sự sửa đổi, bổ sung toàn diện trên nhiều phương diện, từ nguyên tắc quản lý, phạm vi điều chỉnh đến trách nhiệm của các chủ thể tham gia không gian mạng. Một trong những điểm mới mang tính nền tảng của Luật là việc hoàn thiện và thống nhất hệ thống pháp luật liên quan đến an ninh mạng. Trước đây, các quy định về an ninh mạng và an toàn thông tin có nhiều văn bản khác nhau dẫn đến sự chồng chéo, thiếu đồng bộ trong quá trình triển khai thực hiện. Đến nay, Luật An ninh mạng năm 2025 đã tiến hành rà soát, kế thừa và tích hợp các quy định có liên quan, từ đó xây dựng một khung pháp lý thống nhất, đồng bộ, rõ ràng hơn. Cùng tìm hiểu các điểm mới của Luật An ninh mạng năm 2025: Thứ nhất, Luật An ninh mạng năm 2025 đã mở rộng phạm vi bảo vệ, đặc biệt chú trọng đến các nhóm yếu thế trong xã hội như trẻ em, người cao tuổi, người hạn chế về nhận thức. Trong bối cảnh các hành vi lừa đảo, xâm hại trên không gian mạng ngày càng gia tăng và nhắm vào các đối tượng hạn chế về nhận thức, việc bổ sung quy định này có ý nghĩa rất thiết thực. Đồng thời, Luật còn quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong việc tuyên truyền, phổ biến kiến thức, trang bị kỹ năng sử dụng internet an toàn, cũng như xây dựng môi trường mạng lành mạnh, thân thiện đối với các nhóm đối tượng này. Thứ hai, Luật An ninh mạng năm 2025 đã bổ sung các quy định nhằm kiểm soát những rủi ro phát sinh từ sự phát triển của công nghệ mới. Theo đó, Luật nghiêm cấm các hành vi lợi dụng công nghệ để giả mạo hình ảnh, âm thanh, video nhằm mục đích lừa đảo, xuyên tạc, xâm phạm danh dự, uy tín của tổ chức, cá nhân. So với Luật năm 2018, đây là nội dung hoàn toàn mới, thể hiện sự chủ động của Nhà nước trong việc nhận diện và ứng phó với các nguy cơ an ninh phi truyền thống trên không gian mạng. Thứ ba, Luật An ninh mạng năm 2025 cũng quy định cụ thể, chặt chẽ hơn về bảo vệ dữ liệu cá nhân một vấn đề hiện đang được xã hội đặc biệt quan tâm. Các tổ chức, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trên không gian mạng có trách nhiệm xây dựng hệ thống bảo mật thông tin, áp dụng các biện pháp kỹ thuật cần thiết để bảo vệ dữ liệu người dùng, phải kịp thời phát hiện, ngăn chặn và xử lý các sự cố rò rỉ, mất an toàn thông tin. So với Luật cũ, trách nhiệm này được quy định rõ ràng hơn, có tính ràng buộc cao hơn, nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp đối với người sử dụng. Kỳ họp Quốc hội biểu quyết thông qua Luật An ninh mạng. Thứ tư, một nội dung mới nhấn mạnh yêu cầu nâng cao năng lực tự chủ về an ninh mạng quốc gia. Nhà nước khuyến khích và ưu tiên phát triển các sản phẩm, dịch vụ, công nghệ an ninh mạng trong nước; đầu tư xây dựng hạ tầng số, trung tâm dữ liệu, hệ thống giám sát và cảnh báo an ninh mạng. Bên cạnh đó, Luật còn chú trọng đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực an ninh mạng. Đây là giải pháp lâu dài nhằm giảm sự phụ thuộc vào công nghệ nước ngoài, tăng cường khả năng bảo vệ chủ quyền số quốc gia. Thứ năm, Luật An ninh mạng năm 2025 cũng đã bổ sung các quy định về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực an ninh mạng, nhằm đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm mạn. Việc tăng cường hợp tác với các quốc gia, tổ chức quốc tế trong trao đổi thông tin, chia sẻ kinh nghiệm, hỗ trợ kỹ thuật nhằm góp phần nâng cao hiệu quả phát hiện, ngăn chặn và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trên không gian mạng. Thứ sáu, Luật An ninh mạng năm 2025 cũng mở rộng và cụ thể hóa các hành vi bị nghiêm cấm. Không chỉ dừng lại ở các hành vi đơn giản như tấn công hệ thống thông tin, phát tán mã độc, luật mới còn bao quát các hành vi mới phát sinh như phát tán thông tin giả, lừa đảo trực tuyến, xâm phạm dữ liệu cá nhân, lợi dụng mạng xã hội để gây mất trật tự xã hội. Việc quy định rõ ràng, cụ thể các hành vi này giúp cơ quan chức năng có cơ sở pháp lý vững chắc để xử lý nghiêm các vi phạm. Thứ bảy, Luật An ninh mạng năm 2025 cũng làm rõ hơn trách nhiệm của từng chủ thể tham gia không gian mạng, bao gồm cơ quan nhà nước, tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân. Mỗi chủ thể đều có nghĩa vụ tuân thủ pháp luật, chủ động phòng ngừa rủi ro, phối hợp với cơ quan chức năng trong việc bảo đảm an ninh mạng. Đối với cá nhân, việc sử dụng internet cần gắn với ý thức trách nhiệm, không đăng tải, chia sẻ thông tin sai sự thật, không thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật. Việc triển khai đồng bộ và hiệu quả Luật An ninh mạng năm 2025 không chỉ hoàn thiện thể chế, bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự an toàn xã hội, mà còn góp phần xây dựng một môi trường mạng an toàn, lành mạnh, thúc đẩy phát triển kinh tế số và xã hội số bền vững. Mỗi tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân cần nâng cao nhận thức, chấp hành nghiêm pháp luật, chung tay xây dựng không gian mạng an toàn, văn minh, góp phần bảo vệ phát triển đất nước trong thời đại công nghệ số Võ Luân – Phòng PBGDPL
16:58 19/03/2026
1212
Các hành vi gây cháy rừng có thể bị phạt đến 100 triệu đồng
Rừng là tài sản vô cùng quý giá của quốc gia, có vai trò quan trọng trong bảo vệ môi trường, điều hòa khí hậu, bảo vệ nguồn nước và phát triển kinh tế – xã hội. Tuy nhiên, thực tế cho thấy nhiều vụ cháy rừng xuất phát từ những hành vi tưởng chừng rất nhỏ như đốt rác, đốt thực bì, đốt nương rẫy bất cẩn, đặc biệt vào mùa khô. Chỉ một chút bất cẩn cũng có thể khiến lửa lan nhanh, gây thiệt hại lớn cho rừng và môi trường. Pháp luật Việt Nam đã có những quy định cụ thể để xử lý nghiêm các hành vi này. Theo quy định tại Điều 17 Nghị định 35/2019/NĐ-CP của Chính phủ (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 07/2022/NĐ-CP) về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lâm nghiệp, hành vi vi phạm quy định về phòng cháy và chữa cháy rừng gây cháy rừng sẽ bị xử phạt tùy theo mức độ thiệt hại, cụ thể như sau: Trong thực tế, đôi khi vì chủ quan chỉ một hành vi tưởng như đơn giản như đốt rác gần rừng nhưng nếu không kiểm soát tốt, gây cháy rừng thì hậu quả không chỉ là thiệt hại tài nguyên thiên nhiên mà người vi phạm còn phải đối mặt với mức phạt hành chính lên đến 100 triệu đồng. Bên cạnh đó, trong trường hợp hành vi vi phạm gây hậu quả nghiêm trọng, người vi phạm còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại theo quy định tại Điều 313 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung bởi khoản 115 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017) tùy theo tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi vi phạm, người phạm tội có thể bị phạt tù với mức cao nhất đến 12 năm theo quy định của pháp luật. Để chung tay bảo vệ rừng, bảo vệ lá phổi xanh của chúng ta và tránh những hậu quả đáng tiếc, mỗi người dân chúng ta cần nâng cao ý thức khi sinh sống, sản xuất gần rừng; không đốt rác, đốt nương rẫy bừa bãi trong mùa khô; tuân thủ nghiêm các quy định về phòng cháy, chữa cháy rừng. Khi phát hiện nguy cơ cháy rừng hoặc cháy rừng xảy ra, cần kịp thời báo cho chính quyền địa phương, lực lượng kiểm lâm hoặc cơ quan chức năng để xử lý kịp thời. Thảo My – Phòng QLXLVPHC & TDTHPL
10:49 17/03/2026
247
NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT VIÊN CHỨC NĂM 2025
Trong thời gian qua, đội ngũ viên chức của các đơn vị sự nghiệp công lập đã có nhiều chuyển biến tích cực, từng bước học tập rèn luyện nâng cao nghiệp vụ chuyên môn nhằm đáp ứng yêu cầu vị trí việc làm và nhiệm vụ chính trị trong tình hình mới. Phần lớn viên chức có bản lĩnh chính trị vững vàng, chấp hành tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; có tinh thần trách nhiệm trong công việc, tận tụy phục vụ Nhân dân. Viên chức Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Lâm Đồng Với mục tiêu tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về quản lý đội ngũ viên chức, đáp ứng yêu cầu đổi mới tổ chức và hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập trong giai đoạn hiện nay. Tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Viên chức năm 2025, đánh dấu bước hoàn thiện quan trọng trong hệ thống pháp luật về quản lý đội ngũ viên chức. Việc ban hành Luật nhằm tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý, nâng cao chất lượng đội ngũ viên chức và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập, đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính trong giai đoạn hiện nay. So với Luật Viên chức năm 2010 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2019), Luật Viên chức năm 2025 có nhiều điểm mới đáng chú ý, trong đó nổi bật là việc tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý viên chức theo vị trí việc làm. Theo quy định mới, vị trí việc làm được xác định là căn cứ quan trọng để thực hiện tuyển dụng, bố trí, sử dụng, đánh giá, đào tạo và thực hiện các chế độ, chính sách đối với viên chức. Việc quản lý theo vị trí việc làm góp phần bảo đảm sử dụng đúng người, đúng việc, phát huy năng lực của từng cá nhân, nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập. Luật cũng có những đổi mới trong công tác đánh giá viên chức. Việc đánh giá được thực hiện trên cơ sở các tiêu chí như phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp, năng lực chuyên môn, kết quả thực hiện nhiệm vụ, tinh thần trách nhiệm và thái độ phục vụ nhân dân. Bên cạnh đó, Luật bổ sung việc xem xét các yếu tố như năng lực đổi mới, sáng tạo, khả năng thích ứng với yêu cầu công việc. Kết quả đánh giá viên chức là căn cứ quan trọng để bố trí, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng, khen thưởng hoặc xem xét xử lý trách nhiệm đối với viên chức. Một điểm mới đáng chú ý của Luật Viên chức năm 2025 là tăng cường trách nhiệm cá nhân của viên chức trong thực thi nhiệm vụ. Theo đó, viên chức không hoàn thành nhiệm vụ hoặc không đáp ứng yêu cầu của vị trí việc làm có thể xem xét bố trí vào vị trí công tác khác phù hợp hoặc giải quyết thôi việc theo quy định. Quy định này nhằm khắc phục tình trạng bình quân trong đánh giá, đồng thời nâng cao ý thức trách nhiệm của viên chức trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao. Luật cũng bổ sung quy định về nguồn thu nhập của viên chức. Ngoài tiền lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập, viên chức có thể được hưởng các khoản thu nhập hợp pháp khác theo quy định của pháp luật và cơ chế tự chủ của đơn vị. Quy định này góp phần tạo động lực làm việc, khuyến khích viên chức nâng cao năng lực chuyên môn, nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ sự nghiệp công. Bên cạnh đó, Luật Viên chức năm 2025 siết chặt các quy định liên quan đến xử lý kỷ luật viên chức nhằm bảo đảm việc xử lý vi phạm được thực hiện nghiêm minh, đúng quy định. Đồng thời, Luật cũng bổ sung quy định về quản lý hồ sơ viên chức bằng hồ sơ điện tử, được cập nhật trên hệ thống thông tin quản lý viên chức và kết nối với các cơ sở dữ liệu có liên quan. Đây là bước tiến quan trọng trong việc thúc đẩy chuyển đổi số trong công tác quản lý cán bộ, viên chức. Luật Viên chức năm 2025 sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026. Việc triển khai thực hiện hiệu quả các quy định của Luật sẽ góp phần xây dựng đội ngũ viên chức có phẩm chất, năng lực, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập. Nguyễn Bích Quyên – Văn phòng Sở
10:11 16/03/2026
214
Chính phủ quy định biện pháp thi hành Luật Phục hồi, phá sản
Ngày 28/02/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 64/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành của Luật Phục hồi, phá sản liên quan đến việc thi hành quyết định tuyên bố phá sản đối với doanh nghiệp và hợp tác xã. Theo đó, Nghị định quy định cụ thể các nội dung về thủ tục thi hành quyết định tuyên bố phá sản; việc định giá, bán tài sản; áp dụng biện pháp cưỡng chế; cũng như cơ chế giám sát hoạt động của quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản nhằm bảo đảm quá trình thi hành quyết định phá sản được thực hiện minh bạch, đúng pháp luật. Quy định rõ thẩm quyền và quy trình thi hành quyết định phá sản Theo quy định mới, việc thi hành quyết định tuyên bố phá sản được thực hiện theo các quy định của Luật Phục hồi, phá sản. Trường hợp luật không quy định thì áp dụng theo pháp luật về thi hành án dân sự. Nghị định nêu rõ, trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ khi nhận được quyết định tuyên bố phá sản của Tòa án, cơ quan thi hành án dân sự phải chủ động ra quyết định thi hành và phân công Chấp hành viên phụ trách vụ việc. Sau khi được phân công, chấp hành viên có trách nhiệm gửi văn bản yêu cầu quản tài viên hoặc doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản tổ chức thi hành quyết định phá sản; Mở tài khoản tại ngân hàng đứng tên cơ quan thi hành án dân sự để tiếp nhận các khoản tiền thu hồi được từ doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản; Giám sát quá trình thi hành quyết định phá sản. Trường hợp cần thiết, áp dụng các biện pháp cưỡng chế theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự. Văn bản yêu cầu tổ chức thi hành quyết định phá sản phải được gửi cho Tòa án, Viện kiểm sát và các chủ thể tham gia thủ tục phá sản để phối hợp thực hiện. Xác minh điều kiện thi hành quyết định tuyên bố phá sản Nghị định cũng quy định rõ trách nhiệm của quản tài viên hoặc doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản trong quá trình tổ chức thi hành quyết định phá sản. Trong thời hạn 09 ngày kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu của Chấp hành viên thì Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản thực hiện việc xác minh điều kiện thi hành quyết định tuyên bố phá sản của doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản; của người mắc nợ, người có tài sản bảo đảm theo quyết định tuyên bố phá sản của người khác có liên quan. Những người có nghĩa vụ liên quan phải kê khai trung thực và cung cấp đầy đủ thông tin về tài sản, thu nhập và điều kiện thi hành quyết định phá sản, đồng thời chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung kê khai. Quy định cụ thể việc quản lý và chuyển tiền thi hành Trong thời hạn 15 ngày kể từ khi nhận quyết định thi hành, Chấp hành viên có trách nhiệm đề nghị Tòa án chuyển số tiền còn lại đang quản lý vào tài khoản của cơ quan thi hành án dân sự để tiếp tục xử lý theo quy định. Sau khi nhận được đề nghị, Tòa án phải chuyển tiền trong thời hạn 07 ngày. Các khoản tiền từ việc bán tài sản, thanh toán nghĩa vụ hoặc từ các tổ chức, cá nhân liên quan phải được chuyển vào tài khoản do cơ quan thi hành án dân sự chỉ định. Ủy thác thi hành quyết định tuyên bố phá sản Nghị định cho phép cơ quan thi hành án dân sự thực hiện ủy thác thi hành hoặc ủy thác xử lý tài sản trong trường hợp cần thiết, đặc biệt khi tài sản của doanh nghiệp phá sản nằm tại địa phương khác. Trong trường hợp ủy thác toàn bộ việc thi hành quyết định phá sản cho một cơ quan thi hành án dân sự khác, cơ quan nhận ủy thác sẽ mở tài khoản riêng để quản lý các khoản tiền thu hồi được và thực hiện việc thanh toán theo quy định. Thủ tục trả lại tài sản thuê hoặc mượn khi doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản Đối với tài sản mà doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản đang thuê hoặc mượn, chủ sở hữu có quyền gửi văn bản đề nghị trả lại tài sản kèm theo các giấy tờ chứng minh quyền sở hữu. Sau khi tiếp nhận hồ sơ, Chấp hành viên sẽ chuyển cho quản tài viên hoặc doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản để xử lý. Trong thời hạn 07 ngày, việc trả lại tài sản phải được thực hiện và báo cáo kết quả cho cơ quan thi hành án dân sự. Thanh toán tiền và thu phí thi hành quyết định tuyên bố phá sản Trong thời hạn 10 ngày kể từ khi nhận được tiền hoặc giao tài sản, Chấp hành viên thực hiện việc thanh toán cho các chủ thể theo quyết định tuyên bố phá sản của Tòa án. Các chi phí phát sinh trong quá trình tổ chức thi hành được xác định là chi phí phá sản và được thanh toán theo quy định của pháp luật. Đối với trường hợp khoản tiền hoặc tài sản được thu hồi từ việc bán tài sản của doanh nghiệp phá sản mà không phải áp dụng biện pháp cưỡng chế, cơ quan thi hành án dân sự không thu phí thi hành án. Nghị định 64/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực từ ngày 01/3/2026, đánh dấu bước tiến quan trọng trong việc hoàn thiện cơ chế pháp lý về xử lý phá sản tại Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, bảo đảm trật tự, kỷ cương trong hoạt động kinh doanh và xử lý các trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán. Đinh Trúc - PBGDPL
10:51 10/03/2026
202
CHƯƠNG TRÌNH PHÒNG, CHỐNG MUA BÁN NGƯỜI GIAI ĐOẠN 2026 – 2030 VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2035 TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH Lâm Đồng (KẾ HOẠCH 2655/KH-UBND NGÀY 03/7/2026)
05:18 07/03/2026
115
Lâm Đồng triển khai Bộ Công cụ ngăn ngừa và xử lý các hành vi không tuân thủ pháp luật trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế giai đoạn 2026 - 2030
Để tăng cường công tác quản lý, bảo đảm quyền lợi tốt nhất cho trẻ em và thực hiện hiệu quả các quy định pháp luật liên quan, theo đúng tinh thần Quyết định số 2696/QĐ-TTg ngày 11/12/2025 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 188/QĐ-BTP ngày 19/01/2026 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về triển khai Bộ Công cụ ngăn ngừa và xử lý các hành vi không tuân thủ pháp luật trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế giai đoạn 2026 – 2030. Ngày 02/3/2026, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 2591/KH-UBND về triển khai Bộ Công cụ ngăn ngừa và xử lý các hành vi không tuân thủ pháp luật trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế giai đoạn 2026 - 2030 trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng. Kế hoạch được ban hành nhằm mục đích: Tổ chức hiệu quả việc triển khai các khuyến nghị trong Bộ Công cụ ngăn ngừa và xử lý các hành vi không tuân thủ pháp luật trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế trên địa bàn tỉnh; Bảo đảm công tác giải quyết nuôi con nuôi quốc tế được thực hiện vì lợi ích tốt nhất của trẻ em; ngăn ngừa, xử lý các hành vi không tuân thủ pháp luật trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế; Xác định rõ trách nhiệm của cơ quan chủ trì và cơ quan phối hợp trong việc thực hiện các hoạt động triển khai Bộ Công cụ; Nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các sở, ngành và địa phương trong việc triển khai thực hiện Bộ Công cụ. Đồng thời, để việc triển khai kế hoạch trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng được thực hiện bảo đảm đúng tiến độ, chất lượng, hiệu quả, kế hoạch đã phân công các nhiệm vụ cụ thể đối với từng cơ quan, đơn vị, địa phương, như sau: Sở Tư pháp chủ trì, phối hợp với Công an tỉnh, Sở Ngoại vụ, Sở Y tế, Sở Dân tộc và Tôn giáo, Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Tài chính; Ủy ban nhân dân các xã, phường, đặc khu và các cơ quan, tổ chức có liên quan để thực hiện: Tổ chức hội nghị triển khai Quyết định ban hành Kế hoạch và truyền thông về Bộ Công cụ; Truyền thông, phổ biến, nâng cao nhận thức, trách nhiệm các cấp, các ngành, cộng đồng về công tác nuôi con nuôi theo Công ước La Hay 193 và pháp luật về nuôi con nuôi; Rà soát, xây dựng, ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản, đề án và tổ chức thực hiện văn bản, đề án liên quan đến công tác nuôi con nuôi; Xây dựng, triển khai dịch vụ tư vấn, hỗ trợ trước, trong và sau quá trình giải quyết nuôi con nuôi cho cha, mẹ nuôi, con nuôi và các chủ thể có liên quan; Tăng cường, đổi mới quy chế phối hợp liên ngành trong công tác giải quyết nuôi con nuôi; Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong lĩnh vực trẻ em, nuôi con nuôi quốc tế; Tổ chức hội nghị tổng kết triển khai Kế hoạch. Hình ảnh Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng tổ chức buổi lễ giao nhận con nuôi có yếu tố nước ngoài bảo đảm đúng quy định của pháp luật về nuôi con nuôi. Sở Y tế chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị, tổ chức có liên quan để thực hiện: Truyền thông, phổ biến, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp, các ngành, cộng đồng trong công tác chăm sóc và bảo vệ trẻ em, bảo đảm cho trẻ em được sống trong môi trường gia đình lâu dài, bền vững; Phối hợp rà soát, xây dựng, ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản, đề án và tổ chức thực hiện văn bản, đề án về chính sách an sinh xã hội, hỗ trợ trẻ em tái đoàn tụ gia đình; Phối hợp xây dựng, vận hành Cơ sở dữ liệu trẻ em, đẩy mạnh việc cập nhật, khai thác, sử dụng, kết nối, chia sẻ với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và các Cơ sở dữ liệu chuyên ngành khá. Sở Dân tộc và Tôn giáo chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị, tổ chức có liên quan để thực hiện truyền thông, phổ biến, vận động các tổ chức, cá nhân tôn giáo đang nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt thực hiện việc chuyển đổi hình thức chăm sóc thay thế nhằm tạo điều kiện cho trẻ em được sống trong môi trường gia đình. Công an tỉnh chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị, tổ chức có liên quan thực hiện: Phối hợp rà soát, xây dựng, ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản, đề án và tổ chức thực hiện văn bản, đề án liên quan đến phòng, chống mua bán trẻ em; Tăng cường công tác phòng, chống mua bán người trong việc tiếp nhận, chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em, giải quyết nuôi con nuôi. Việc triển khai kế hoạch này không chỉ góp phần bảo vệ quyền lợi của trẻ em và gia đình liên quan đến nuôi con nuôi quốc tế mà còn thể hiện cam kết của tỉnh Lâm Đồng trong việc tuân thủ các chuẩn mực pháp luật quốc tế và nâng cao trách nhiệm quản lý xã hội nói chung. Thúy Hà, Phòng HCTP
11:28 05/03/2026
123
Trang
12345
Liên kết
Thống kê truy cập
  • Đang online: 30
  • Hôm nay: 1108
  • Trong tuần: 11842
  • Trong tháng: 37817
  • Tổng truy cập: 84238