Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị về ngăn chặn, đẩy lùi bạo lực học đường

17:28 11/02/2026

Vừa qua, ngày 30/01/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 03/CT-TTg về ngăn chặn, đẩy lùi bạo lực học đường, nhằm tăng cường bảo đảm an ninh, an toàn trường học; xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, thân thiện và phòng ngừa hiệu quả các hành vi bạo lực trong học đường. Thời gian qua, công tác bảo đảm môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện, phòng, chống bạo lực học đường đã được ngành giáo dục đặc biệt quan tâm triển khai với nhiều giải pháp cụ thể, đạt được những kết quả tích cực. Các điều kiện bảo đảm an ninh, an toàn và chất lượng giáo dục ngày càng được chú trọng, tạo môi trường thuận lợi để học sinh học tập, rèn luyện và phát triển toàn diện về kiến thức, phẩm chất, năng lực, đạo đức, lối sống và kỹ năng sống. Tuy nhiên, tại một số địa phương vẫn còn xảy ra các vụ việc bạo lực giữa học sinh, đặc biệt là ngoài khuôn viên trường học, với tính chất phức tạp, ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường giáo dục, thể chất và tinh thần học sinh, gây lo lắng, bức xúc trong dư luận xã hội. Trước thực trạng đó, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Giáo dục và Đào tạo, toàn ngành giáo dục, các bộ, ngành liên quan và địa phương theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của mình, tập trung triển khai thực hiện đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, thân thiện, bảo đảm an ninh, an toàn trong trường học. Theo đó, nhiệm vụ trọng tâm của Bộ Giáo dục và Đào tạo là chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành và địa phương triển khai các nhiệm vụ cụ thể như: Tiếp tục thực hiện nghiêm các quy định, nhiệm vụ, giải pháp về xây dựng môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện, phòng, chống bạo lực học đường; chú trọng giáo dục đạo đức, lối sống, văn hóa ứng xử và kỹ năng sống cho học sinh. Rà soát, bổ sung hoặc ban hành mới các quy định có liên quan đến giáo dục đạo đức, kỹ năng phòng ngừa bạo lực và ứng xử văn minh trong học đường. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của cán bộ, giáo viên, học sinh, phụ huynh và cộng đồng về phòng, chống bạo lực học đường; nhân rộng các mô hình giáo dục hiệu quả, triển khai hoạt động tư vấn tâm lý và công tác xã hội trong trường học. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo trong quản lý, giám sát học sinh, hỗ trợ phát hiện sớm, ngăn ngừa và can thiệp kịp thời các hành vi bạo lực học đường. Bồi dưỡng, tập huấn đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên về kỹ năng kiểm soát cảm xúc, ứng xử sư phạm và giải quyết tình huống với học sinh. Nâng cao trách nhiệm người đứng đầu cơ sở giáo dục; xử lý nghiêm các hành vi vi phạm đạo đức, văn hóa ứng xử trong trường học; bảo đảm an toàn tuyệt đối cho học sinh. Về công tác phối hợp, Thủ tướng yêu cầu phải phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành liên quan: Bộ Công an chỉ đạo công an các cấp phối hợp với cơ quan giáo dục hướng dẫn, tập huấn kỹ năng tự bảo vệ bản thân, phòng chống vi phạm pháp luật và tệ nạn xã hội; tăng cường bảo đảm an ninh, trật tự tại khu vực ngoài trường học, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật có liên quan đến học sinh. Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng và hướng dẫn thực hiện các chương trình bảo vệ trẻ em, tăng cường hoạt động tư vấn, phát hiện sớm và can thiệp kịp thời các vụ việc bạo lực; quản lý, vận hành hiệu quả Tổng đài quốc gia bảo vệ trẻ em 111. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo và các cơ quan liên quan đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục kỹ năng phòng ngừa bạo lực học đường; quản lý, kiểm soát nội dung trên không gian mạng, kịp thời ngăn chặn, bóc gỡ, xử lý các thông tin xấu, độc, cổ xúy hành vi bạo lực. Các cơ quan truyền thông như Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam phối hợp cùng ngành giáo dục tăng cường truyền thông, tôn vinh gương người tốt, việc tốt, lan tỏa hình ảnh học sinh tích cực, thân thiện; đồng thời, tổ chức các chương trình tọa đàm, phóng sự về kỹ năng phòng, chống bạo lực học đường. Đồng thời, Thủ tướng Chính phủ cũng yêu cầu Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: Ban hành kế hoạch cụ thể hóa việc triển khai Chỉ thị, bảo đảm thực hiện theo nguyên tắc “06 rõ”: rõ người, rõ việc, rõ thẩm quyền, rõ trách nhiệm, rõ thời gian, rõ kết quả. Tăng cường phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội, thường xuyên trao đổi thông tin về học sinh, phát hiện và xử lý sớm các dấu hiệu bạo lực hoặc vi phạm. Đưa mục tiêu không để xảy ra bạo lực học đường vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hằng năm của địa phương. Quy định rõ trách nhiệm của từng sở, ngành, UBND cấp xã trong công tác quản lý, bảo đảm an ninh, an toàn trường học và giáo dục đạo đức, lối sống, kỹ năng sống cho học sinh. Bên cạnh đó, phát huy tốt vai trò của đoàn thể, tổ chức xã hội: Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh phối hợp chặt chẽ với ngành giáo dục triển khai hoạt động tuyên truyền, hướng dẫn đoàn viên, đội viên và học sinh chấp hành pháp luật, phòng ngừa bạo lực học đường. Hội Khuyến học Việt Nam phối hợp với ngành giáo dục và các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể trong việc xây dựng môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức, lối sống và kỹ năng sống cho học sinh. Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan theo dõi, đôn đốc, kiểm tra và định kỳ báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả thực hiện Chỉ thị. Chỉ thị số 03/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ là văn bản chỉ đạo quan trọng, thể hiện sự quan tâm của Chính phủ trong việc xây dựng môi trường giáo dục an toàn, nhân văn, không bạo lực; bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của học sinh; góp phần hình thành thế hệ trẻ Việt Nam phát triển toàn diện về tri thức, đạo đức và nhân cách, hướng tới một xã hội văn minh và bền vững. Đỗ Toàn – Phòng PBGDPL

Lâm Đồng ban hành quy định mới về mức tỷ lệ phần trăm xác định đơn giá thuê đất, công trình ngầm và đất có mặt nước
Nhằm thống nhất việc xác định, thu và quản lý tiền thuê đất sau khi tổ chức sắp xếp lại chính quyền địa phương 2 cấp, ngày 05/02/2026, Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã ban hành Quyết định số 12/2026/QĐ-UBND quy định mức tỷ lệ phần trăm (%) cụ thể để xác định đơn giá thuê đất hàng năm; mức tỷ lệ phần trăm (%) để tính tiền thuê đất đối với công trình ngầm và đất có mặt nước trên địa bàn tỉnh. Việc ban hành Quyết định số 12/2026/QĐ-UBND thể hiện nỗ lực của tỉnh Lâm Đồng trong việc đồng bộ hóa cơ chế tài chính đất đai, công khai, minh bạch trong xác định giá thuê đất, tiền thuê đất, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, nhà đầu tư, tổ chức và cá nhân sử dụng đất hợp pháp, đúng mục đích và hiệu quả. Quy định mới cũng góp phần tăng nguồn thu ngân sách, khuyến khích phát triển công trình ngầm, khai thác hợp lý quỹ đất có mặt nước, phù hợp với định hướng phát triển bền vững và nhu cầu đầu tư tại địa phương trong giai đoạn mới. Quyết định được ban hành căn cứ Luật Đất đai năm 2024, Nghị định số 103/2024/NĐ-CP của Chính phủ quy định về tiền sử dụng đất, tiền thuê đất và các văn bản pháp luật có liên quan. Đây là cơ sở quan trọng để tỉnh Lâm Đồng áp dụng thống nhất cách tính đơn giá thuê đất, tiền thuê đất đối với các tổ chức, cá nhân, hộ kinh doanh, nhà đầu tư, góp phần nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai, bảo đảm công bằng, minh bạch và phù hợp với điều kiện thực tiễn địa phương. Theo đó, quy định cụ thể mức tỷ lệ phần trăm xác định đơn giá thuê đất: Theo Quyết định số 12/2026/QĐ-UBND, mức tỷ lệ phần trăm (%) cụ thể để xác định đơn giá thuê đất trả tiền hàng năm (không qua hình thức đấu giá) được phân chia theo khu vực và mục đích sử dụng như sau: Các phường trên địa bàn tỉnh: 1,2%/năm Các xã: 0,8%/năm Đất thuộc các khu công nghiệp: 0,8%/năm Đất thuộc địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn: 0,5%/năm Đất nông nghiệp: 0,5%/năm Đối với đất sử dụng đa mục đích, tỷ lệ phần trăm được lấy theo mục đích sử dụng có mức tỷ lệ cao nhất trong các nhóm nêu trên. Trường hợp đấu giá quyền sử dụng đất, đơn giá thuê đất là đơn giá trúng đấu giá tương ứng với hình thức Nhà nước cho thuê đất trả tiền hàng năm theo quy định tại Nghị định số 103/2024/NĐ-CP của Chính phủ. Quy định về tiền thuê đất đối với công trình ngầm và đất có mặt nước: về xây dựng công trình ngầm, Quyết định quy định: Tỷ lệ phần trăm để tính tiền thuê đất hằng năm là 30% của đơn giá thuê đất trên bề mặt có cùng mục đích sử dụng. Trường hợp thuê đất trả tiền một lần cho cả thời gian thuê, tỷ lệ phần trăm để tính tiền thuê đất là 30% giá thuê đất trên bề mặt cùng mục đích và thời hạn sử dụng. Đối với đất có mặt nước, quy định như sau: 20% của đơn giá thuê đất hằng năm hoặc thuê đất trả tiền một lần đối với trường hợp thuộc vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn; hoặc các dự án thuộc lĩnh vực khuyến khích, đặc biệt khuyến khích đầu tư. 50% của đơn giá thuê đất hằng năm hoặc thuê đất trả tiền một lần đối với các khu vực còn lại. Về quy định chuyển tiếp, đối với các hồ sơ đã được Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền ban hành quyết định cho thuê đất, thuê mặt nước trước thời điểm Quyết định số 12/2026/QĐ-UBND có hiệu lực thì tiếp tục thực hiện theo các quyết định đã ban hành trước đó. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 20/02/2026 và thay thế các quyết định tương tự đã được ban hành trước đây của Ủy ban nhân dân các tỉnh Lâm Đồng (cũ), Bình Thuận (cũ) và Đắk Nông (cũ), nhằm bảo đảm thống nhất quản lý sau khi sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh. Đỗ Toàn – Phòng PBGDPL
15:25 09/02/2026
81
Quy định mới tại Luật Quản lý thuế 2025 bổ sung trường hợp phải hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế trước khi xuất cảnh
Vừa qua, tại phiên họp ngày 10-12-2025,Quốc hội đã thông qua Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 với nhiều điểm mới quan trọng, trong đó đáng chú ý là bổ sung quy định về các trường hợp phải hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế trước khi xuất cảnh, góp phần tăng cường hiệu lực quản lý, bảo đảm công bằng và minh bạch trong thực thi pháp luật về thuế có hiệu lực từ ngày 01/7/2026. Theo đó, bổ sung đối tượng phải hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế trước khi xuất cảnh: Theo quy định mới tại khoản 5 Điều 17, các đối tượng sau phải hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế trước khi xuất cảnh: Cá nhân kinh doanh, chủ hộ kinh doanh, cá nhân là chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp, cá nhân là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã thuộc trường hợp bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế nhưng chưa hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế; Cá nhân kinh doanh, chủ hộ kinh doanh, cá nhân là chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp, cá nhân là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã không còn hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký nhưng chưa hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế. Quy định này pháp điển hóa nội dung từ Nghị định số 49/2025/NĐ-CP ngày 28/02/2025 của Chính phủ, đồng thời làm rõ trách nhiệm của cá nhân có quyền sở hữu hoặc chi phối doanh nghiệp (chủ sở hữu hưởng lợi) trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp, tránh tình trạng né tránh, trốn thuế thông qua việc xuất cảnh. Quy định hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế trong chuyển nhượng dự án đầu tư, chuyển nhượng vốn. Luật Quản lý thuế sửa đổi cũng bổ sung quy định về hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế trong trường hợp chuyển nhượng dự án đầu tư hoặc chuyển nhượng vốn. Mục tiêu là bảo đảm bên nhận chuyển nhượng nắm rõ nghĩa vụ thuế còn tồn đọng của dự án, có cơ sở pháp lý để đối soát, yêu cầu bên chuyển nhượng thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trước khi ký hợp đồng, qua đó giảm thiểu rủi ro pháp lý và nâng cao tính minh bạch của thị trường chuyển nhượng dự án, đặc biệt trong các giao dịch có yếu tố nước ngoài. Cụ thể: Tổ chức, cá nhân trong nước chuyển nhượng dự án đầu tư hoặc vốn phải hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế phát sinh từ hoạt động này theo quy định của pháp luật; Tổ chức, cá nhân nước ngoài chuyển nhượng dự án đầu tư hoặc vốn cho tổ chức, cá nhân trong nước thì bên nhận chuyển nhượng có trách nhiệm xác định, kê khai, khấu trừ và nộp thay số thuế phải nộp của bên chuyển nhượng; Trường hợp cả bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng đều là tổ chức, cá nhân nước ngoài, thì tổ chức được thành lập tại Việt Nam nơi bên chuyển nhượng có vốn đầu tư phải kê khai và nộp thay số thuế phải nộp của bên chuyển nhượng. Quy định này giúp bảo đảm nguyên tắc nghĩa vụ tài chính gắn liền với dự án, tài sản được chuyển giao, ngăn ngừa thất thu ngân sách nhà nước, đồng thời đáp ứng yêu cầu quản lý trong bối cảnh giao dịch mua bán, sáp nhập xuyên biên giới ngày càng gia tăng. Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2026, trừ: Điều 13, và Quy định về sử dụng hóa đơn điện tử của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh tại Điều 26, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2026. Việc bổ sung các quy định nêu trên góp phần tăng cường kỷ luật tài chính – ngân sách, đồng thời hướng đến mục tiêu xây dựng môi trường kinh doanh minh bạch, công bằng, bảo đảm quyền và nghĩa vụ của người nộp thuế trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Đỗ Toàn – Phòng PBGDPL
10:34 05/02/2026
47
Xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm quy định về họ, hụi, biêu, phường và quản lý, sử dụng pháo
Đinh Trúc - PBGDPL
10:29 05/02/2026
34
Đơn giản hóa thủ tục hành chính trong Lĩnh vực Hộ tịch
Vừa qua, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 18/2026/NĐ-CP ngày 14/01/2026 sửa đổi, bổ sung 15 Nghị định; với nội dung thực hiện đơn giản hóa các thủ tục hành chính thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp, đặc biệt là trong lĩnh vực hộ tịch. Theo đó, nội dung của Nghị định chủ yếu sửa đổi, bổ sung nhiều Nghị định khác với mục tiêu cắt giảm thủ tục hành chính trong các lĩnh vực tư pháp như hộ tịch, bổ trợ tư pháp, thi hành án, đăng ký biện pháp bảo đảm và hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Về nội dung sửa đổi ở lĩnh vực hộ tịch cơ bản vẫn giữ một số nội dung của Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 về quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch. Theo đó, tại Điều 13 Nghị định 18/2026/NĐ-CP đã sửa đổi bổ sung một số Điều của Nghị định 123/2015/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Hộ tịch 2014. Nghị định 18/2026/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 123/2015/NĐ-CP hướng dẫn Luật Hộ tịch (Hình từ internet) Điểm nổi bật của Nghị định này là tạo hành lang pháp lý để thực hiện các thủ tục hộ tịch trên môi trường điện tử thông qua kết nối với Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Người yêu cầu đăng ký hộ tịch (như khai sinh, khai tử, kết hôn…), cấp bản sao trích lục hoặc xác nhận tình trạng hôn nhân không còn bắt buộc phải xuất trình bản giấy các giấy tờ tùy thân như Hộ chiếu, Thẻ căn cước công dân hay Giấy chứng nhận căn cước nếu thông tin đã có trong hệ thống. Người dân chỉ cần cung cấp thông tin về số giấy tờ hoặc số định danh cá nhân. Thay vào đó, cơ quan đăng ký hộ tịch sẽ tự khai thác thông tin trên các hệ thống dữ liệu điện tử liên thông. Bản chính chỉ được yêu cầu xuất trình trong trường hợp không thể khai thác được dữ liệu hoặc thông tin hiện có không đầy đủ, chính xác. Đáng chú ý hơn, Nghị định 18/2026/NĐ-CP đã bãi bỏ một số điều khi yêu cầu nộp văn bản xác minh không còn lưu giữ được Sổ hộ tịch tại nơi thường trú trước đây khi đăng ký lại khai sinh, đăng ký lại kết hôn. Quy trình xác minh khi đăng ký lại khai sinh hoặc kết hôn được chuyển đổi mạnh mẽ sang hình thức điện tử. Nghị định số 18/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 15/01/2026 sửa đổi một số điều của Nghị định 123/2015/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Hộ tịch. Kim Cúc - Phòng Hành chính tư pháp
09:57 04/02/2026
33
Những điểm mới của luật bảo vệ bí mật nhà nước năm 2025
Vừa qua, tại Kỳ họp thứ 10 ngày 10/12/2025 Quốc Hội đã thông qua Luật Bảo vệ bí mật Nhà nước năm 2025, Luật có hiệu lực thi hành ngày 01/3/2026. Luật Bảo vệ bí mật Nhà nước mới tiếp tục khẳng định bí mật nhà nước là thông tin có nội dung quan trọng do người có thẩm quyền xác định, nếu bị lộ hoặc mất sẽ gây hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc. Bí mật nhà nước có thể tồn tại ở nhiều dạng (tài liệu, vật, lời nói, hoạt động) và được xác định rõ hơn so với trước đây, phù hợp với thực tế chuyển đổi số, văn bản điện tử. Sở Tư pháp tập huấn về công tác Bảo vệ bí mật Nhà nước So với Luật Bảo vệ bí mật Nhà nước năm 2018, Luật Bảo vệ bí mật Nhà nước năm 2025 có sự rà soát, điều chỉnh lại phạm vị thông tin được xếp loại bí mật nhằm thu hẹp phạm vi những lĩnh vực dễ gây cản trở cho phát triển kinh tế – xã hội, khoa học – công nghệ, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế; đồng thời vẫn bảo đảm bí mật thuộc các lĩnh vực trọng yếu đối với quốc phòng, an ninh, đối ngoại, văn hóa, giáo dục và đào tạo, tổ chức cán bộ… Về công nghệ hiện đại, Luật Bảo vệ bí mật Nhà nước năm 2018 chưa có quy định về công nghệ số. Luật Bảo vệ bí mật Nhà nước năm 2025 đã cập nhật quy định về công nghệ hiện đại, đặc biệt là cấm sử dụng trí tuệ nhân tạo hoặc công nghệ mới để xâm phạm bí mật nhà nước; đăng tải bí mật nhà nước trên phương tiện thông tin đại chúng; đăng tải, phát tán bí mật nhà nước trên mạng Internet, mạng viễn thông (khoản 10, Điều 5). Đồng thời, Luật cũng quy định triển khai, sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo hoặc công nghệ mới trong hoạt động bảo vệ bí mật nhà nước (điểm e, khoản 3, Điều 24). Luật Bảo vệ bí mật Nhà nước năm 2025 quy định rõ vai trò của các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan, trong đó Ban Cơ yếu Chính phủ giúp Bộ Quốc phòng trong quản lý chuyên ngành cơ yếu, mã hóa, bảo mật và kiểm tra nghiệp vụ; đồng thời, việc đào tạo, hướng dẫn nghiệp vụ, kiểm tra thực thi cũng được nhấn mạnh hơn. Theo đó, các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân cấp tỉnh phải tổ chức quán triệt, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến nội dung của Luật bằng các hình thức phù hợp. Từ đó, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của người đứng đầu và cán bộ, công chức, viên chức trong việc bảo vệ bí mật nhà nước trong giai đoạn mới. Luật Bảo vệ bí mật Nhà nước năm 2025 được đánh giá là điều chỉnh cho phù hợp với thời đại số và hội nhập quốc tế, nhấn mạnh bảo vệ bí mật trong môi trường dữ liệu điện tử, kết nối số, áp dụng công nghệ mới trong hoạt động nhà nước và xã hội. Nguyễn Bích Quyên – Văn phòng Sở
13:42 02/02/2026
151
Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự công cộng theo quy định tại Nghị định 282/2025/NĐ-CP ngày 30/10/2025
10:13 27/01/2026
118
Hướng dẫn về truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi sử dụng dao có tính sát thương cao xâm phạm tính mạng, sức khỏe người khác
Nhận thấy được khó khăn, vướng mắc của một số Tòa án về việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi sử dụng dao có tính sát thương cao xâm phạm tính mạng, sức khỏe người khác, để áp dụng thống nhất quy định pháp luật về nội dung này, vừa qua Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Công văn số 01/TANDTC-PC ngày 05/01/2026 để hướng dẫn về nội dung này như sau: Về truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi sử dụng dao có tính sát thương cao xâm phạm tính mạng, sức khỏe người khác: 1. Về thời điểm truy cứu trách nhiệm hình sự Theo quy định tại điểm d khoản 2 và khoản 6 Điều 2 của Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ số 42/2024/QH15 ngày 29/6/2024 thì dao sắc, dao nhọn thuộc danh mục do Bộ trưởng Bộ Công an ban hành được sử dụng với mục đích xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người trái pháp luật là vũ khí quân dụng. Luật này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2025. Ngày 15/11/2024, Bộ trưởng Bộ Công an đã ban hành Thông tư số 75/2024/TT-BCA quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ, trong đó Phụ lục số 05 đã xác định danh mục dao có tính sát thương cao. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2025. Do vậy, kể từ ngày 01/01/2025, người thực hiện hành vi phạm tội sử dụng dao có tính sát thương cao xâm phạm tính mạng, sức khỏe của người khác thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự (Điều 304) và tội phạm tương ứng xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của con người theo quy định của Bộ luật Hình sự, nếu có đủ yếu tố cấu thành tội phạm. 2. Về hành vi sử dụng dao có tính sát thương cao gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác a) Người thực hiện hành vi sử dụng dao có tính sát thương cao gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác dưới 11% và không có tình tiết định tội khác quy định tại khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự quy định tại Điều 304 của Bộ luật Hình sự, nếu có đủ yếu tố cấu thành tội phạm mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác quy định tại khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Trường hợp này, xác định tư cách tham gia tố tụng của người bị gây thương tích hoặc bị gây tổn hại cho sức khỏe là nguyên đơn dân sự. Nếu người thực hiện hành vi phạm tội đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả thì được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. b) Người thực hiện hành vi sử dụng dao có tính sát thương cao gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác từ 11% trở lên thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về 02 tội: Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự (Điều 304) và Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 134) của Bộ luật Hình sự, nếu có đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Trường hợp này, không xác định hành vi sử dụng dao có tính sát thương cao là tình tiết dùng vũ khí để định khung hình phạt đối với trường hợp quy định tại điểm đ khoản 2, điểm c và d khoản 3, điểm d và đ khoản 4, điểm b khoản 5 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. c) Người thực hiện hành vi chuẩn bị dao có tính sát thương cao nhằm mục đích gây thương tích, tổn hại sức khỏe của người khác thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự quy định tại Điều 304 của Bộ luật Hình sự, nếu có đủ yếu tố cấu thành tội phạm mà không truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác quy định tại khoản 6 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Vi Võ - TTTGPLNN
10:30 21/01/2026
127
Đổi mới quy trình thực hiện thủ tục hành chính trong đăng ký biện pháp bảo đảm đối với quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất
Vừa qua, Chính phủ ban hành Nghị định số 18/2026/NĐ-CP ngày 14/01/2026 sửa đổi, bổ sung một số nghị định nhằm cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp. Theo đó, tại Điều 11, Nghị định số 18/2026/NĐ-CP đã sửa đổi, bổ sung một số quy định của Nghị định số 99/2022/NĐ-CP ngày 30/11/2022 của Chính phủ về đăng ký biện pháp bảo đảm nhằm tiếp tục cải cách mạnh mẽ thủ tục hành chính trong lĩnh vực đăng ký biện pháp bảo đảm, phù hợp với bối cảnh đẩy mạnh chuyển đổi số, xây dựng nền hành chính hiện đại, minh bạch, hiệu quả. * Về cắt giảm giấy tờ, tái sử dụng thông tin, dữ liệu trong giải quyết yêu cầu đăng ký, yêu cầu cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm: Điểm mới của Nghị định số 18/2006/NĐ-CP trong thực thi phương án đơn giản hóa thủ tục hành chính về đăng ký biện pháp bảo đảm là cắt giảm giấy tờ, tài liệu thuộc thành phần hồ sơ đăng ký, hồ sơ yêu cầu cung cấp thông tin theo hướng quy định trách nhiệm của cơ quan đăng ký trong việc tái sử dụng thông tin, dữ liệu trong giải quyết yêu cầu đăng ký, yêu cầu cung cấp thông tin, thay thế cho việc yêu cầu người dân nộp giấy tờ, tài liệu thuộc thành phần hồ sơ đăng ký, hồ sơ yêu cầu cung cấp thông tin. Theo quy định tại khoản 4 Điều 11 Nghị định số 18/2006/NĐ-CP, người yêu cầu đăng ký chỉ phải nộp một lần văn bản của pháp nhân giao nhiệm vụ cho chi nhánh thực hiện chức năng của pháp nhân trong yêu cầu đăng ký, yêu cầu cung cấp thông tin, trừ trường hợp văn bản này có nội dung giao nhiệm vụ cho chi nhánh theo từng vụ việc. Đối với các lần đăng ký, yêu cầu cung cấp thông tin tiếp theo, cơ quan đăng ký có trách nhiệm số hóa, lưu giữ văn bản này và chủ động sử dụng thông tin, dữ liệu đã có, không yêu cầu người yêu cầu đăng ký nộp lại giấy tờ này, trừ trường hợp có văn bản khác thay đổi nội dung hoặc thay thế văn bản đã được số hóa, lưu giữ. Quy định này nhằm thực thi phương án đơn giản hóa thủ tục hành chính trong đăng ký biện pháp bảo đảm theo Quyết định số 1819/QĐ-TTg ngày 25/8/2025 của Thủ tướng Chính phủ, qua đó, góp phần cắt giảm chi phí tuân thủ, tạo thuận lợi hơn cho người dân, doanh nghiệp trong thực hiện thủ tục hành chính về đăng ký, cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm. * Về cắt giảm thủ tục hành chính không cần thiết; thay thế tài liệu, giấy tờ thuộc thành phần hồ sơ đăng ký bằng việc khai thác thông tin, dữ liệu: Trên cơ sở rà soát, đánh giá nhu cầu của người dân, doanh nghiệp trong thực hiện thủ tục hành chính, Nghị định số 18/2026/NĐ-CP đã bãi bỏ thủ tục cấp bản sao văn bản chứng nhận đăng ký biện pháp bảo đảm bằng tàu bay. Việc bãi bỏ thủ tục này xuất phát từ thực tế chưa phát sinh hồ sơ liên quan đến TTHC cấp bản sao văn bản chứng nhận đăng ký biện pháp bảo đảm bằng tàu bay. Đồng thời, theo quy định của pháp luật về hàng không, hiện đã có TTHC “Cung cấp thông tin trong Sổ đăng bạ tàu bay Việt Nam”, bao quát nội dung của TTHC này. Do đó, Nghị định số 18/2026/NĐ-CP đã cắt giảm thủ tục hành chính về cấp bản sao văn bản chứng nhận đăng ký biện pháp bảo đảm bằng tàu bay. Nghị định số 18/2026/NĐ-CP cũng đã sửa đổi các quy định của Nghị định số 99/2022/NĐ-CP theo hướng thay thế giấy tờ, tài liệu thuộc thành phần hồ sơ giấy bằng việc khai thác thông tin từ Cơ sở dữ liệu quốc gia, Cơ sở dữ liệu chuyên ngành theo chủ trương cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu tại Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP 15/11/2025 của Chính phủ. Theo quy định tại khoản 7 Điều 4 Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất là thành phần hồ sơ của thủ tục hành chính được thay thế bằng việc khai thác, sử dụng thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai. Trên cơ sở quy định này, khoản 2 Điều 11 Nghị định số 18/2026/NĐ-CP đã bổ sung quy định về nguyên tắc đăng ký, theo đó: trường hợp giấy tờ thuộc thành phần hồ sơ đăng ký đã được thay thế bằng việc khai thác, sử dụng thông tin tương ứng từ các Cơ sở dữ liệu quốc gia, Cơ sở dữ liệu chuyên ngành do cơ quan chủ quản công bố theo quy định của pháp luật thì người yêu cầu đăng ký không phải nộp giấy tờ này, cơ quan đăng ký không yêu cầu người yêu cầu đăng ký phải nộp giấy tờ này trong hồ sơ đăng ký đó mà thực hiện việc khai thác thông tin trong cơ sở dữ liệu để giải quyết thủ tục hành chính về đăng ký, cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm. Trường hợp không khai thác được thông tin hoặc thông tin khai thác được không đầy đủ, không chính xác để thay thế cho giấy tờ là thành phần hồ sơ đăng ký thì cơ quan đăng ký yêu cầu người yêu cầu đăng ký nộp giấy tờ tương ứng thuộc thành phần hồ sơ đăng ký theo quy định tại Nghị định này để giải quyết việc đăng ký. Đồng thời, tại Nghị định số 18/2026/NĐ-CP việc cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu theo Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP được áp dụng đối với hồ sơ đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất. Theo đó, khoản 9 Điều 18 Nghị định số 18/2026/NĐ-CP quy định: Bản gốc Giấy chứng nhận đối với quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất là thành phần hồ sơ đăng ký quy định tại các điều từ Điều 26 đến Điều 33 Nghị định này hoặc được quy định tại Điều 36 Nghị định này được thay thế bằng việc khai thác, sử dụng thông tin tương ứng từ Cơ sở dữ liệu đất đai mà không phải nộp trong hồ sơ đăng ký. Quy định nêu trên của Nghị định số 18/2026/NĐ-CP góp phần thực hiện thực chất, hiệu quả nguyên tắc khai thác, sử dụng thông tin đã có trong các cơ sở dữ liệu để thay thế thành phần hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính của Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP, qua đó, cắt giảm giấy tờ, tiết kiệm chi phí, thời gian thực hiện thủ tục hành chính cho người dân, doanh nghiệp, đồng thời nâng cao tính minh bạch, hiệu quả trong cung cấp dịch vụ công của cơ quan đăng ký. * Về đổi mới quy trình thực hiện thủ tục hành chính trong đăng ký biện pháp bảo đảm đối với quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất Một nội dung cải cách thủ tục hành chính nổi bật của Nghị định số 18/2026/NĐ-CP là thay đổi quy trình thực hiện thủ tục hành chính trong đăng ký biện pháp bảo đảm bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất. Theo quy định của Nghị định số 99/2022/NĐ-CP, thông tin về đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất được xác nhận trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất. Tuy nhiên, theo quy định của điểm b khoản 2 Điều 11 Nghị quyết số 254/2025/QH15 ngày 11/12/2025 của Quốc hội quy định một số cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật Đất đai, kể từ ngày 01/01/2026 nội dung đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với được cập nhật biến động vào Cơ sở dữ liệu đất đai mà không phải xác nhận trên Giấy chứng nhận đã cấp. Trên cơ sở quy định của Nghị quyết số 254/2025/QH15, Nghị định số18/2026/NĐ-CP đã quy định, trường hợp đăng ký biện pháp bảo đảm bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất, cơ quan đăng ký không thực hiện xác nhận đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất mà thực hiện cập nhật nội dung đăng ký thế chấp vào Cơ sở dữ liệu đất đai (khoản 9 Điều 11). Trường hợp có yêu cầu đăng ký thay đổi để rút bớt tài sản thế chấp hoặc có yêu cầu xóa đăng ký thế chấp mà nội dung đăng ký thế chấp trước đó đã được ghi trên Giấy chứng nhận thì thực hiện việc cập nhật nội dung xóa đăng ký đối với tài sản thế chấp được rút bớt hoặc xóa đăng ký thế chấp vào Cơ sở dữ liệu đất đai, đồng thời thực hiện xác nhận nội dung xóa đăng ký đối với tài sản thế chấp được rút bớt hoặc xóa đăng ký thế chấp trên Giấy chứng nhận (khoản 2 Điều 16). Với những điểm được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực đăng ký biện pháp bảo đảm của Nghị định số 18/2026/NĐ-CP đã thể hiện quyết tâm của Chính phủ trong công tác cải cách thủ tục hành chính với quan điểm lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Việc đơn giản hóa thủ tục hành chính trong lĩnh vực đăng ký biện pháp bảo đảm tại Nghị định số 18/2026/NĐ-CP sẽ góp phần giảm chi phí tuân thủ thủ tục hành chính, tạo thuận lợi hơn cho người dân, doanh nghiệp trong tiếp cận vốn để phát triển sản xuất, kinh doanh. Bích Trâm – Phòng HCTP
10:26 21/01/2026
84
Quy định về nội dung chi, mức chi của Quỹ phòng chống thiên tai tỉnh Lâm Đồng
15:33 16/01/2026
75
Nâng mức cho vay hỗ trợ tạo việc làm, duy trì, mở rộng việc làm
Nhằm tạo thêm cơ hội việc làm, hỗ trợ người lao động và cơ sở sản xuất, kinh doanh phục hồi, phát triển kinh tế – xã hội, ngày 25/12/2025 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 338/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Việc làm về chính sách hỗ trợ tạo việc làm. Một trong những điểm mới đáng chú ý của Nghị định là nâng mức cho vay hỗ trợ tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm, qua đó đáp ứng tốt hơn nhu cầu vốn của người dân và doanh nghiệp trong bối cảnh hiện nay. Theo đó, đối tượng vay vốn được áp dụng cho: Người lao động là công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động và có nhu cầu việc làm (trường hợp lao động chưa thành niên phải bảo đảm điều kiện theo quy định của Bộ luật Lao động). Cơ sở sản xuất, kinh doanh gồm: doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, tổ hợp tác, hộ kinh doanh. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong quá trình thực hiện chính sách. Điểm nổi bật của Nghị quyết này là quy định mức cho vay: Đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh: Mức vay tối đa 10 tỷ đồng/dự án và không quá 200 triệu đồng cho 01 người lao động được tạo việc làm, duy trì hoặc mở rộng việc làm. Đối với người lao động: Mức vay tối đa 200 triệu đồng/người.Trường hợp đặc biệt: Nếu điều kiện kinh tế – xã hội địa phương cho phép, UBND cấp tỉnh có thể trình HĐND cùng cấp quyết định mức vay cao hơn đối với nguồn vốn ngân sách địa phương ủy thác qua Ngân hàng Chính sách xã hội. So với quy định trước đây (Nghị định số 61/2015/NĐ-CP, sửa đổi bổ sung tại các Nghị định số 74/2019/NĐ-CP và 104/2022/NĐ-CP), mức vay mới tăng gấp 5 lần đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh và tăng gấp 2 lần đối với người lao động. Việc nâng mức vay này nhằm đáp ứng nhu cầu vốn ngày càng cao, đồng thời thể hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước trong việc phát triển kinh tế tư nhân, thúc đẩy việc làm bền vững, phù hợp với Chiến lược phát triển Ngân hàng Chính sách xã hội đến năm 2030. Về thời hạn vay và lãi suất quy định tối đa 120 tháng (10 năm). Ngân hàng Chính sách xã hội căn cứ nguồn vốn và khả năng trả nợ để thỏa thuận thời hạn cụ thể với người vay. Bằng 127% lãi suất vay hộ nghèo (đối với đối tượng thông thường). Bằng 100% lãi suất vay hộ nghèo (đối với đối tượng yếu thế, như người khuyết tật, người dân tộc thiểu số, người đã chấp hành xong án phạt tù, người ở vùng đặc biệt khó khăn...). Lãi suất nợ quá hạn: bằng 130% lãi suất vay vốn theo quy định. Bảo đảm tiền vay: Với các khoản vay trên 200 triệu đồng, cơ sở sản xuất, kinh doanh phải thực hiện bảo đảm tiền vay theo quy định pháp luật và hướng dẫn của Ngân hàng Chính sách xã hội. Trường hợp địa phương có điều kiện kinh tế – xã hội phù hợp, UBND cấp tỉnh có thể đề xuất mức vay phải bảo đảm tiền vay cao hơn đối với nguồn vốn ngân sách địa phương ủy thác. Nghị định số 338/2025/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ 01/01/2026, việc nâng mức cho vay hỗ trợ tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm là một bước tiến quan trọng, góp phần thúc đẩy sản xuất, tăng thu nhập, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội toàn diện. Đỗ Toàn – Phòng PBGDPL
09:59 14/01/2026
85
Trang
123
Liên kết
Thống kê truy cập
  • Đang online: 25
  • Hôm nay: 179
  • Trong tuần: 1845
  • Trong tháng: 13944
  • Tổng truy cập: 38395