Những điểm mới đáng chú ý về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông
Ngày 14/8/2026, Bộ Tư pháp ban hành Văn bản hợp nhất số 6050/2026/VBHN-BTP hợp nhất Nghị định về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại Bộ phận Một cửa và Cổng Dịch vụ công quốc gia. Văn bản được hợp nhất trên cơ sở Nghị định số 118/2025/NĐ-CP ngày 09/6/2025 của Chính phủ, có hiệu lực từ ngày 01/7/2025, cùng các nội dung sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 367/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025, Nghị định số 224/2026/NĐ-CP ngày 24/6/2026 và Nghị định số 309/2026/NĐ-CP ngày 05/8/2026. Theo đó, việc ban hành Văn bản hợp nhất giúp hệ thống hóa các quy định hiện hành, tạo thuận lợi cho cơ quan, tổ chức, cá nhân trong tra cứu và áp dụng thống nhất các quy định về tiếp nhận, giải quyết và trả kết quả TTHC theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông. Đáng chú ý, các quy định được cập nhật tiếp tục thể hiện rõ định hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ; đẩy mạnh chuyển đổi số, số hóa hồ sơ, khai thác và chia sẻ dữ liệu; tăng cường thực hiện thủ tục hành chính không phụ thuộc vào địa giới hành chính và nâng cao trách nhiệm của cơ quan, người có thẩm quyền trong giải quyết TTHC. Trung tâm phục vụ hành chính công tỉnh Lâm Đồng Thực hiện thủ tục hành chính theo hướng thuận tiện, minh bạch Văn bản hợp nhất tiếp tục xác định việc giải quyết TTHC phải bảo đảm kịp thời, nhanh chóng, thuận tiện, đúng pháp luật, công bằng, bình đẳng, khách quan, công khai, minh bạch, đồng thời tăng cường đôn đốc, kiểm tra, theo dõi, giám sát và đánh giá quá trình giải quyết. Cơ quan giải quyết TTHC phải tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia đánh giá chất lượng giải quyết TTHC. Đồng thời, việc thực hiện TTHC không được làm phát sinh chi phí cho tổ chức, cá nhân ngoài quy định của pháp luật; cán bộ, công chức, viên chức và cơ quan có thẩm quyền phải thực hiện trách nhiệm giải trình về việc thực thi công vụ trong giải quyết TTHC. Giảm yêu cầu cung cấp lại thông tin, giấy tờ đã có dữ liệu Một trong những nội dung đáng chú ý trong quá trình số hóa giải quyết TTHC là tăng cường khai thác dữ liệu đã có. Theo đó, khi các thành phần hồ sơ TTHC đã có dữ liệu điện tử bảo đảm giá trị pháp lý và có thể khai thác thông qua kết nối, chia sẻ giữa Hệ thống thông tin giải quyết TTHC với cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành, hệ thống thông tin dùng chung và Cổng Dịch vụ công quốc gia thì tổ chức, cá nhân không phải khai lại thông tin hoặc nộp lại hồ sơ, giấy tờ, tài liệu. Cán bộ, công chức, viên chức, nhân viên tại Bộ phận Một cửa có trách nhiệm kiểm tra và chuyển dữ liệu vào hồ sơ TTHC điện tử. Quy định này góp phần giảm giấy tờ, thời gian và chi phí thực hiện thủ tục hành chính, đồng thời thúc đẩy chuyển từ phương thức xử lý dựa trên hồ sơ giấy sang khai thác, sử dụng dữ liệu điện tử. Tăng cường thực hiện thủ tục hành chính không phụ thuộc vào địa giới hành chính Văn bản hợp nhất tiếp tục quy định về việc thực hiện TTHC không phụ thuộc vào địa giới hành chính. Theo đó, tổ chức, cá nhân có thể nộp hồ sơ và nhận kết quả giải quyết TTHC bằng hình thức trực tuyến trên Cổng Dịch vụ công quốc gia, qua dịch vụ bưu chính hoặc trực tiếp tại Bộ phận Một cửa theo quy định, không phân biệt cấp chính quyền, địa giới hành chính nơi cư trú, nơi đặt trụ sở hoặc nơi đã cấp các loại giấy tờ cho tổ chức, cá nhân. Đối với phạm vi cấp tỉnh, tổ chức, cá nhân có thể thực hiện các TTHC thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan hành chính trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tại bất kỳ Bộ phận Một cửa trong phạm vi cấp tỉnh theo quy định. Chủ tịch UBND cấp tỉnh có trách nhiệm chỉ đạo bảo đảm việc thực hiện TTHC không phụ thuộc vào địa giới hành chính trong phạm vi cấp tỉnh; đồng thời chỉ đạo công khai danh mục TTHC được tiếp nhận tại Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp tỉnh, cấp xã và danh mục dịch vụ công trực tuyến trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về TTHC. Kiện toàn Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp tỉnh, cấp xã Văn bản hợp nhất tiếp tục quy định mô hình Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp tỉnh và Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp xã, phù hợp với tổ chức chính quyền địa phương hiện hành. Tại cấp xã, Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp xã có Giám đốc tương đương Trưởng phòng và không quá 02 Phó Giám đốc tương đương Phó Trưởng phòng thuộc UBND cấp xã. Trung tâm có công chức, nhân viên thuộc quản lý của Trung tâm; công chức, viên chức của các phòng chuyên môn, cơ quan thuộc ngành dọc và nhân sự của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính công ích hoặc dịch vụ hỗ trợ có thể được bố trí, cử đến thực hiện nhiệm vụ theo quy định. UBND cấp tỉnh, UBND cấp xã và các cơ quan chuyên môn có trách nhiệm tổ chức thực hiện, giải quyết TTHC theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông; đồng thời bảo đảm điều kiện về nhân lực, cơ sở vật chất, trang thiết bị và hệ thống thông tin phục vụ giải quyết TTHC. Đẩy mạnh kết nối, tích hợp và chia sẻ dữ liệu Hệ thống thông tin giải quyết TTHC được xác định là nền tảng thống nhất của bộ, ngành, địa phương, có chức năng tiếp nhận, giải quyết, theo dõi tình hình tiếp nhận, giải quyết và kết quả giải quyết TTHC; đồng thời kết nối, tích hợp, chia sẻ dữ liệu với Cổng Dịch vụ công quốc gia để cung cấp và thực hiện dịch vụ công trực tuyến. Cổng Dịch vụ công quốc gia bao gồm nhiều hợp phần như Cơ sở dữ liệu quốc gia về TTHC; hệ thống tiếp nhận, trả lời phản ánh, kiến nghị; hệ thống trao đổi định danh, xác thực điện tử; hệ thống thanh toán trực tuyến; hệ thống đánh giá việc giải quyết TTHC; nền tảng trí tuệ nhân tạo hỗ trợ cán bộ, công chức, viên chức, tổ chức, cá nhân; nền tảng phân tích dữ liệu phục vụ chỉ đạo, điều hành và hệ thống điều phối giải quyết TTHC. Những quy định này tạo cơ sở để tiếp tục xây dựng quy trình giải quyết TTHC trên môi trường điện tử, tăng khả năng theo dõi, giám sát và đánh giá chất lượng phục vụ. Bổ sung, khuyến khích triển khai ki-ốt thông minh Một nội dung đáng chú ý là quy định về ki-ốt thông minh tại Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả, Trung tâm Phục vụ hành chính công, Điểm tiếp nhận và trả kết quả. Ki-ốt thông minh được triển khai nhằm hỗ trợ tổ chức, cá nhân tiếp cận và thực hiện TTHC, dịch vụ công trực tuyến. Việc sử dụng ki-ốt thông minh không làm thay đổi thẩm quyền, trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết và trả kết quả thủ tục hành chính của cơ quan, người có thẩm quyền. Đối với hồ sơ được nộp qua ki-ốt thông minh, hệ thống có thể tự động xác thực danh tính thông qua ứng dụng định danh quốc gia VNeID hoặc thiết bị đọc thẻ Căn cước. Việc xác thực này có giá trị thay thế việc kiểm tra, đối chiếu giấy tờ tùy thân của công dân theo quy định. Nâng cao trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức Cơ chế một cửa, một cửa liên thông không chỉ đặt ra yêu cầu về ứng dụng công nghệ mà còn nhấn mạnh trách nhiệm của đội ngũ trực tiếp thực hiện nhiệm vụ. Cán bộ, công chức, viên chức, nhân viên tại Bộ phận Một cửa phải hướng dẫn tổ chức, cá nhân thực hiện TTHC đầy đủ, rõ ràng, chính xác; tiếp nhận, số hóa, giải quyết hoặc chuyển hồ sơ theo thẩm quyền; theo dõi quá trình giải quyết và cập nhật đầy đủ thông tin trên hệ thống. Tăng cường quyền và trách nhiệm của người dân, doanh nghiệp Văn bản hợp nhất tiếp tục bảo đảm quyền của tổ chức, cá nhân trong quá trình thực hiện thủ tục hành chính, trong đó có quyền được hướng dẫn, được tiếp nhận hồ sơ và nhận kết quả; được biết, theo dõi tình trạng giải quyết hồ sơ; đồng thời có quyền phản ánh, kiến nghị về những quy định hoặc việc thực hiện TTHC không phù hợp. Mỗi hồ sơ TTHC sau khi được tiếp nhận được cấp một mã số hồ sơ để phục vụ giao dịch, theo dõi và tra cứu tình trạng giải quyết. Mã số hồ sơ được cấp tự động trên Hệ thống thông tin giải quyết TTHC và được sử dụng thống nhất trong hoạt động giao dịch giữa cơ quan, đơn vị với tổ chức, cá nhân. Qua đó, người dân và doanh nghiệp có thêm công cụ để chủ động theo dõi tiến độ giải quyết hồ sơ, đồng thời góp phần tăng tính công khai, minh bạch trong thực hiện thủ tục hành chính. Tiếp tục hướng đến nền hành chính phục vụ Có thể thấy, các quy định được cập nhật trong Văn bản hợp nhất đã tiếp tục hoàn thiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông theo hướng đơn giản hóa quy trình, giảm giấy tờ, tăng cường khai thác dữ liệu, mở rộng phương thức thực hiện TTHC và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số. Việc tăng cường thực hiện TTHC không phụ thuộc vào địa giới hành chính, khai thác dữ liệu thay cho việc yêu cầu cung cấp lại giấy tờ, triển khai các công cụ số như VNeID, ki-ốt thông minh, hệ thống thông tin giải quyết TTHC và Cổng Dịch vụ công quốc gia sẽ góp phần tạo thuận lợi hơn cho người dân, doanh nghiệp. Việc tổ chức triển khai đầy đủ, thống nhất các quy định của Văn bản hợp nhất sẽ góp phần nâng cao chất lượng giải quyết thủ tục hành chính, tăng mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp và thúc đẩy xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp, hiện đại, công khai, minh bạch, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Trần Thanh Bình, Sở Tư pháp
10:48 24/08/2026
252
NĂM 2026 QUYẾT TÂM GỠ CẢNH BÁO “THẺ VÀNG” CỦA EC VỀ CHỐNG KHAI THÁC HẢI SẢN BẤT HỢP PHÁP
Ngày 10 tháng 8 năm 2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1516/QĐ-TTg về Kế hoạch hành động thực hiện các biện pháp khắc phục khuyến nghị của Ủy ban châu Âu (EC) về chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU). Đây là nhiệm vụ chính trị đặc biệt quan trọng, cấp bách, gắn liền với lợi ích của ngư dân và uy tín quốc gia trên trường quốc tế. Với các nội dung mục tiêu, chỉ tiêu và giải pháp cụ thể như sau Mục tiêu trọng tâm: Gỡ "Thẻ vàng" ngay trong năm 2026 Khắc phục triệt để các tồn tại, hạn chế và thực hiện đầy đủ, thực chất các khuyến nghị của EC tại đợt thanh tra lần thứ năm; tạo chuyển biến căn bản trong quản lý nghề cá, ngăn chặn và tiến tới chấm dứt khai thác IUU; chuẩn bị đầy đủ hồ sơ, dữ liệu và bằng chứng thực thi để làm việc với EC, quyết tâm gỡ cảnh “Thẻ vàng” trong năm 2026; đồng thời phát triển ngành thủy sản Việt Nam minh bạch, có trách nhiệm và bền vững. Các chỉ tiêu cụ thể phải đạt "100%" cần thực hiện Để đạt được mục tiêu đề ra, Chính phủ yêu cầu các cơ quan chức năng và ngư dân đảm bảo: 100% tàu cá đã đăng ký phải được cập nhật đầy đủ, chính xác trên Cơ sở dữ liệu quốc gia VNFishbase. 100% tàu cá thuộc diện bắt buộc phải lắp thiết bị giám sát hành trình (VMS) và duy trì kết nối tín hiệu 24/7 khi hoạt động trên biển. Ngư dân và chủ tàu cần tuân thủ các quy định của pháp luật trong hoạt động khai thác thủy sản Ngư dân và chủ tàu cần tuân thủ các quy định của pháp luật trong hoạt động khai thác thủy sản 100% lượt tàu cá (chiều dài từ 06m trở lên) ra vào cảng phải được ghi nhận trên hệ thống Truy xuất nguồn gốc điện tử (eCDT). 100% vụ việc vi phạm IUU được tiếp nhận phải được xác minh và xử lý dứt điểm theo quy định, không để tồn đọng hồ sơ. Giải pháp siết chặt thực thi pháp luật và chuyển đổi số Kế hoạch nhấn mạnh việc ứng dụng công nghệ để hiện đại hóa quản trị nghề cá theo nguyên tắc: "Một tàu cá - Một mã định danh - Một hồ sơ điện tử thống nhất". Đồng thời, các lực lượng chức năng sẽ tăng cường điều tra, xử lý hình sự đối với các hành vi vi phạm nghiêm trọng như: + Môi giới, móc nối đưa tàu cá và ngư dân đi khai thác trái phép tại vùng biển nước ngoài. + Làm giả hồ sơ, gian lận xuất xứ thủy sản. + Tự ý tháo gỡ hoặc can thiệp trái phép vào thiết bị giám sát hành trình VMS. Đồng thời, Chính phủ phát động "Tháng cao điểm" thực hiện công tác chống khai thác IUU trên phạm vi toàn quốc đến hết ngày 15 tháng 9 năm 2026. Trong giai đoạn này, các bộ, ngành và địa phương ven biển sẽ dồn tổng lực để xử lý dứt điểm các nhiệm vụ còn tồn tại, đặc biệt là quản lý nhóm tàu cá "3 không" (không đăng ký, không đăng kiểm, không giấy phép). Mọi hành vi vi phạm về khai thác IUU không chỉ gây thiệt hại kinh tế cho bản thân chủ tàu mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến nỗ lực xuất khẩu thủy sản của cả đất nước. Ngư dân cần tuân thủ nghiêm các quy định về ghi nhật ký khai thác và duy trì thiết bị giám sát hành trình để cùng chung tay gỡ khó cho ngành thủy sản Việt Nam. Minh Hiền (Phòng QLXLVPHC và TDTHPL)
10:16 24/08/2026
101
Một số điểm đáng chú ý về quy định bổ nhiệm Thừa hành viên
Kể từ ngày 01/7/2026, Nghị định số 151/2026/NĐ-CP ngày 13/5/2026 quy định về tổ chức và hoạt động của văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên có hiệu lực thi hành. Theo đó, chức danh Thừa phát lại được đổi thành Thừa hành viên, Văn phòng Thừa phát lại được đổi thành Văn phòng Thi hành án dân sự. Các điều kiện, tiêu chuẩn về bổ nhiệm Thừa hành viên cũng được quy định tương đối chặt chẽ và có một số điểm đáng chú ý như sau: Thứ nhất, theo quy định tại Khoản 1 Điều 4, Nghị định số 151/2026/NĐ-CP, người có đủ các tiêu chuẩn sau đây thì được xem xét bổ nhiệm Thừa hành viên: - Là công dân Việt Nam không quá 65 tuổi, thường trú tại Việt Nam, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt; - Có trình độ cử nhân luật trở lên; - Có thời gian công tác pháp luật ít nhất 03 năm tại các cơ quan, tổ chức sau khi đã có bằng cử nhân luật trở lên; - Tốt nghiệp khóa đào tạo nghiệp vụ Thừa hành viên hoặc được công nhận tương đương đào tạo nghiệp vụ Thừa hành viên theo quy định tại Điều 5 Nghị định số 151/2026/NĐ-CP; - Đạt yêu cầu kiểm tra kết quả tập sự hành nghề Thừa hành viên; - Không thuộc trường hợp quy định tại Điều 9 Nghị định số 151/2026/NĐ-CP về những trường hợp không được bổ nhiệm Thừa hành viên. Thứ hai, người đề nghị bổ nhiệm thừa hành viên phải tham gia khóa đào tạo nghiệp vụ tại cơ sở đào tạo có chức năng đào tạo nghiệp vụ Thừa hành viên thuộc Bộ Tư pháp và được cấp giấy chứng nhận tốt nghiệp khóa đào tạo nghiệp vụ Thừa hành viên (Điều 5). Thời gian đào tạo nghiệp vụ Thừa hành viên thực hiện theo chương trình khung do Bộ trưởng Bộ Tư pháp phê duyệt. Thừa phát lại (Thừa hành viên) ghi nhận hiện trạng khi lập vi bằng Thứ ba, điều kiện về thực hiện tập sự và kiểm tra tập sự hành nghề Thừa hành viên (Điều 6, Điều 7): Người có giấy chứng nhận tốt nghiệp khóa đào tạo nghiệp vụ Thừa hành viên hoặc quyết định công nhận tương đương đào tạo nghiệp vụ Thừa hành viên gửi trực tiếp văn bản đăng ký tập sự hành nghề Thừa hành viên theo mẫu do Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định hoặc qua dịch vụ bưu chính đến Trung tâm phục vụ hành chính công tỉnh, thành phố nơi văn phòng thi hành án dân sự nhận tập sự đặt trụ sở hoặc trực tuyến trên Cổng Dịch vụ công quốc gia. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Sở Tư pháp cập nhật thông tin người đăng ký tập sự vào cơ sở dữ liệu tổ chức và hoạt động của Thừa hành viên. Trường hợp không thể thực hiện cập nhật theo quy định tại khoản này thì Sở Tư pháp có thông báo ngay bằng văn bản về việc tập sự cho văn phòng thi hành án dân sự nơi nhận tập sự và người tập sự. Thời gian tập sự hành nghề Thừa hành viên tương đương thời gian đào tạo nghiệp vụ Thừa hành viên. Người đã hoàn thành tập sự hành nghề Thừa hành viên được đăng ký tham dự kiểm tra kết quả tập sự do Bộ Tư pháp tổ chức và được cấp giấy chứng nhận khi đạt yêu cầu kết quả kiểm tra. Người dân nộp hồ sơ tại Trung tâm phục vụ hành chính công tỉnh Thứ tư, về hồ sơ đề nghị bổ nhiệm Thừa hành viên (Điều 8), người có đủ tiêu chuẩn quy định lập 01 bộ hồ sơ đề nghị bổ nhiệm Thừa hành viên và gửi trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính đến Trung tâm phục vụ hành chính công tỉnh, thành phố nơi đăng ký tập sự hoặc trực tuyến trên Cổng Dịch vụ công quốc gia. Trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Sở Tư pháp có văn bản kèm theo hồ sơ đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bổ nhiệm Thừa hành viên; trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản và hồ sơ đề nghị bổ nhiệm Thừa hành viên của Sở Tư pháp, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định bổ nhiệm Thừa hành viên; trường hợp từ chối phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người đề nghị bổ nhiệm Thừa hành viên phải nộp phí thẩm định tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề Thừa hành viên theo quy định của pháp luật về phí, lệ phí. Việc ban hành các quy định chặt chẽ về bổ nhiệm Thừa hành viên được kỳ vọng sẽ góp phần xây dựng đội ngũ Thừa hành viên chuyên nghiệp, hiện đại; nâng cao niềm tin của người dân, tổ chức vào các hoạt động tư pháp. Nguyễn Trinh – Phòng Bổ trợ tư pháp
16:17 21/08/2026
113
Những chính sách nổi bật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng
Ngày 13/8/2026, UBND tỉnh Lâm Đồng ban hành Văn bản hợp nhất số 4096/VBHN-QĐ-UBND hợp nhất Quyết định số 23/2026/QĐ-UBND ngày 06/5/2026 quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh và các nội dung sửa đổi, bổ sung tại Quyết định số 58/2026/QĐ-UBND ngày 12/8/2026. Văn bản là cơ sở để thống nhất thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, góp phần bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người có đất bị thu hồi. Một trong những nội dung đáng chú ý là chính sách bồi thường bằng đất có mục đích sử dụng khác hoặc bằng nhà ở đối với hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất nông nghiệp hoặc đất phi nông nghiệp không phải là đất ở. Người dân thực hiện các thủ tục liên quan đến bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng. Theo đó, trường hợp đủ điều kiện được bồi thường về đất và có nhu cầu thì diện tích được xem xét quy đổi bằng 10% diện tích đất nông nghiệp hoặc 30% diện tích đất phi nông nghiệp không phải là đất ở đủ điều kiện bồi thường bị thu hồi. Trường hợp bị thu hồi cả hai loại đất thì áp dụng tỷ lệ cao hơn, không cộng dồn. Mỗi hộ gia đình được xem xét tối đa 02 suất, gồm 02 lô đất ở, 02 căn nhà hoặc 01 lô đất ở và 01 căn nhà. Việc xem xét, bố trí ưu tiên người có công với cách mạng, hộ gia đình chính sách, đồng bào dân tộc thiểu số, hộ nghèo, hộ cận nghèo và các trường hợp theo quy định. * Đối với nhà ở, công trình xây dựng bị thiệt hại do thu hồi đất, trường hợp cần thiết được xem xét bồi thường bổ sung bằng 30% giá trị hiện có của nhà, công trình, nhưng tổng mức bồi thường không vượt quá giá trị xây dựng mới của công trình có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương. - Đối với mồ mả phải di chuyển, mức bồi thường được quy định cụ thể: 15 triệu đồng/mộ đối với mộ đất; 20 triệu đồng/mộ đối với mộ xây đơn giản. Đối với mộ có kiến trúc đặc biệt, ngoài 15 triệu đồng/mộ còn được bồi thường chi phí di chuyển phần kiến trúc trên mặt đất. Trường hợp tự lo việc di dời, hỏa táng hoặc lưu giữ tro cốt được hỗ trợ thêm 5 triệu đồng/mộ. - Người dân phải di chuyển chỗ ở do Nhà nước thu hồi đất được hỗ trợ chi phí di chuyển theo khoảng cách: 10 triệu đồng/hộ nếu di chuyển trong phạm vi 10 km; 15 triệu đồng/hộ nếu trên 10 km đến 30 km và 20 triệu đồng/hộ nếu trên 30 km. Người dân nhận tiền bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất. - Đối với máy móc, dây chuyền sản xuất, thiết bị phục vụ sản xuất, kinh doanh phải di chuyển, chi phí hỗ trợ được xác định theo chi phí kỹ thuật, kinh tế thực tế, hợp lý theo quy định. - Đối với người bị thu hồi đất nông nghiệp, mức hỗ trợ ổn định đời sống tương đương 30 kg gạo/người/tháng, căn cứ giá gạo bình quân trên thị trường tại thời điểm lập phương án. Trường hợp bị thu hồi dưới 30% diện tích đất nông nghiệp được hỗ trợ bằng 50% mức hỗ trợ đối với trường hợp thu hồi từ 30% đến 70%. Ngoài ra, Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp còn được hỗ trợ ổn định sản xuất 2.000 đồng/m² diện tích đất nông nghiệp được bồi thường; đồng thời được xem xét hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm theo quy định. Trường hợp người đủ điều kiện được bố trí tái định cư nhưng tiền bồi thường về đất ở thấp hơn giá trị suất tái định cư tối thiểu và lựa chọn tự lo chỗ ở thì được hỗ trợ phần chênh lệch theo quy định. Văn bản cũng quy định về suất tái định cư tối thiểu, trường hợp hộ gia đình có nhiều thế hệ, nhiều cặp vợ chồng hoặc nhiều hộ gia đình cùng sử dụng một thửa đất ở; đồng thời quy định việc bố trí nhà ở tạm hoặc hỗ trợ tiền thuê nhà trong thời gian chờ hoàn thành khu tái định cư. Đối với hộ nghèo, hộ đang hưởng trợ cấp xã hội, mức hỗ trợ tối đa là 40 triệu đồng nếu phải di chuyển chỗ ở và 20 triệu đồng nếu không phải di chuyển. Đối với người có công với cách mạng và các đối tượng thuộc diện chính sách, mức hỗ trợ tối đa tương ứng là 60 triệu đồng và 30 triệu đồng. Mức hỗ trợ cụ thể do Chủ tịch UBND cấp xã quyết định trên cơ sở hoàn cảnh thực tế. Bên cạnh đó, người sử dụng đất đăng ký, cam kết và bàn giao mặt bằng trước thời điểm phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được thưởng 50.000 đồng/m² diện tích đất bị thu hồi, nhưng tối đa không quá 50 triệu đồng đối với hộ gia đình, cá nhân hoặc tổ chức. Văn bản hợp nhất số 4096/VBHN-QĐ-UBND ngày 13/8/2026 còn quy định nhiều chính sách khác về bồi thường, hỗ trợ đối với cây trồng, vật nuôi, tài sản, sản xuất, kinh doanh và các trường hợp đặc thù. Việc quy định cụ thể các chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư góp phần bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người có đất bị thu hồi, ổn định đời sống, sản xuất, việc làm và chỗ ở, đồng thời tạo sự công khai, minh bạch và đồng thuận trong quá trình thực hiện các công trình, dự án trên địa bàn tỉnh. Đỗ Toàn – Phòng PBGDPL
08:52 21/08/2026
300
Bộ Tư pháp ban hành quy trình giám định trong lĩnh vực tư pháp
Vừa qua, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 04/2026/TT-BTP ngày 29/4/2026, quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tư pháp, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/5/2026. Thông tư này thay thế Thông tư số 09/2023/TT-BTP ngày 29/12/2023 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tư pháp. Theo đó, có nhiều quy định mới quan trọng nhằm triển khai thi hành Luật Giám định tư pháp năm 2025 như quy định cụ thể danh mục các việc giám định tư pháp trong lĩnh vực tư pháp, áp dụng quy chuẩn chuyên môn cho hoạt động giám định tư pháp; thời hạn giám định tư pháp; hồ sơ, lưu trữ hồ sơ giám định tư pháp… Đặc biệt, Thông tư tập trung chuẩn hóa quy trình, thời hạn và hệ thống biểu mẫu về giám định tư pháp trong lĩnh vực tư pháp. Theo quy định tại Thông tư số 04/2026/TT-BTP (Khoản 1 Điều 11), việc giám định theo trưng cầu, yêu cầu trong lĩnh vực tư pháp được thực hiện theo quy trình như sau: - Giao nhận hồ sơ, đối tượng trưng cầu hoặc yêu cầu giám định; - Chuẩn bị giám định; - Thực hiện giám định; - Kết luận giám định; - Trả kết luận giám định; - Lập, lưu và bảo quản hồ sơ giám định. So với Thông tư số 09/2023/TT-BTP ngày 29/12/2023, thời hạn giám định mới đã được cắt giảm tương đối nhiều và quy định rất cụ thể về thời gian thực hiện, cụ thể: Stt Nội dung Quy định tại Thông tư số 09/2023/TT-BTP Quy định tại Thông tư số 04/2026/TT-BTP Số ngày cắt giảm 1 Giao nhận hồ sơ, đối tượng trưng cầu hoặc yêu cầu giám định Tối đa 05 ngày Tối đa 05 ngày 0 2 Chuẩn bị giám định Tối đa 25 ngày Tối đa 10 ngày 15 3 Thực hiện giám định Tối đa 50 ngày Tối đa 30 ngày 20 4 Kết luận giám định Tối đa 05 ngày Tối đa 05 ngày 0 5 Trả kết luận giám định Tối đa 01 ngày Tối đa 01 ngày 0 6 Lập, lưu và bảo quản hồ sơ giám định Tối đa 04 ngày Tối đa 04 ngày 0 7 Trường hợp vụ việc giám định có tính chất phức tạp Thời gian thực hiện giám định (bước 3) và kết luận giám định (bước 4) có thể tăng lên nhưng tổng thời hạn giám định không quá 04 tháng Thời gian thực hiện giám định (bước 3) và kết luận giám định (bước 4) có thể tăng lên nhưng tổng thời hạn giám định không quá 03 tháng 01 tháng Đồng thời, trong quá trình thực hiện giám định, nếu có nội dung mới hoặc vấn đề khác phát sinh thì trong thời hạn 24 giờ kể từ thời điểm phát hiện vấn đề, cá nhân, tổ chức thực hiện giám định phải thông báo ngay bằng văn bản cho người trưng cầu, yêu cầu giám định biết và thống nhất phương án giải quyết trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ thời điểm nhận được thông báo (Khoản 3 Điều 14). Đây là một điểm mới để tránh tình trạng có vấn đề mới phát sinh làm đình trệ hoặc kéo dài quá trình giám định. Ngoài ra, Thông tư số 04/2026/TT-BTP còn quy định về dữ liệu điện tử như việc giao, nhận hồ sơ, đối tượng giám định, thông tin, tài liệu, đồ vật, mẫu vật liên quan (nếu có) được thực hiện bằng hình thức trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính (có ký giao nhận hoặc phiếu gửi) hoặc trên môi trường điện tử. Việc giao, nhận hồ sơ, đối tượng trưng cầu, yêu cầu giám định trên môi trường điện tử được thực hiện theo quy định về giao dịch trên môi trường điện tử và quy định có liên quan (Khoản 2 Điều 12). Trong quá trình thực hiện giám định, người thực hiện giám định phải lập văn bản hoặc dữ liệu điện tử ghi nhận toàn bộ quá trình thực hiện giám định theo quy định tại Điều 34 Luật Giám định tư pháp năm 2025 và theo biểu mẫu quy định tại Điều 20 Thông tư số 04/2026/TT-BTP (Khoản 4 Điều 14). Quy định này sẽ góp phần tối ưu hóa và hiện đại hóa quy trình thực hiện giám định, rút ngắn thời gian, giảm chi phí đi lại và linh hoạt hơn cho các cơ quan, tổ chức. Lưu trữ hồ sơ tại Sở Tư pháp tỉnh Đắk Nông (cũ) Đối với việc lập, bảo quản, lưu trữ hồ sơ giám định tư pháp, trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày hoàn thành việc giám định, người thực hiện giám định có trách nhiệm bàn giao hồ sơ giám định cho cơ quan, tổ chức, đơn vị chủ quản lưu giữ và bảo quản theo quy định. Thông tư số 04/2026/TT-BTP ban hành sẽ góp phần giúp hoạt động giám định tư pháp ngày càng đi vào thực chất, rõ ràng và khoa học hơn. Các bước trong quy trình giám định được quy định cụ thể, chặt chẽ, tạo cơ sở pháp lý vững chắc để người giám định có thể làm việc độc lập, khách quan, minh bạch; đáp ứng yêu cầu của cơ quan trưng cầu, người yêu cầu giám định. Văn Phú – Phòng Bổ trợ tư pháp
15:54 17/08/2026
100
Tăng cường công tác quản lý, bảo vệ rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng
Thời gian qua, công tác quản lý, bảo vệ rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh luôn được Tỉnh ủy, UBND tỉnh cùng các cấp, các ngành quan tâm chỉ đạo, triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, góp phần giữ vững diện tích rừng, bảo đảm an ninh, trật tự và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, tại một số địa phương, tình trạng phá rừng, lấn chiếm, san gạt đất lâm nghiệp vẫn còn xảy ra, điển hình là vụ việc vi phạm tại Tiểu khu 142 và 143 thuộc địa bàn xã Lạc Dương. Bên cạnh đó, công tác phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị và các địa phương có thời điểm chưa chặt chẽ; việc kiểm tra, giám sát và xử lý trách nhiệm đối với các tổ chức, cá nhân để xảy ra vi phạm chưa nghiêm. Vì vậy, tình trạng vi phạm pháp luật về lâm nghiệp và đất đai tại một số địa phương vẫn diễn biến phức tạp, nhiều vụ việc chưa được phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời, triệt để, gây thiệt hại tài nguyên rừng và ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, tạo dư luận không tốt trong xã hội. Nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý, bảo vệ rừng và đất lâm nghiệp, chủ động phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý nghiêm các hành vi phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp, UBND tỉnh Lâm Đồng đã ban hành Chỉ thị số 11/CT-UBND ngày 06/8/2026 về tăng cường công tác quản lý, bảo vệ rừng, đất lâm nghiệp và xử lý tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh. Theo đó, Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu các sở, ngành, UBND các xã, phường, đặc khu Phú Quý, các đơn vị chủ rừng và các cơ quan, tổ chức có liên quan tập trung thực hiện các nội dung như sau: Sở Nông nghiệp và Môi trường chủ trì tham mưu triển khai các chính sách, giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp; rà soát, hoàn thiện các quy định còn bất cập; đôn đốc các đơn vị chủ rừng hoàn thiện phương án sử dụng đất, phương án quản lý rừng bền vững; tăng cường chỉ đạo lực lượng Kiểm lâm tuần tra, kiểm tra, xử lý các vụ vi phạm. Đồng thời, đẩy mạnh chuyển đổi số, xây dựng cơ sở dữ liệu về rừng và đất lâm nghiệp, ứng dụng ảnh viễn thám, hệ thống thông tin địa lý (GIS) trong giám sát, cảnh báo sớm vi phạm; tăng cường kiểm tra, xử lý trách nhiệm đối với các tổ chức, cá nhân buông lỏng quản lý và quan tâm đầu tư nguồn lực, nâng cao năng lực cho lực lượng Kiểm lâm… Các sở, ban, ngành và cơ quan, đơn vị có liên quan căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật về lâm nghiệp, đất đai; triển khai nghiêm các quy định của Luật Lâm nghiệp năm 2017, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường năm 2025 cùng các văn bản chỉ đạo của Trung ương và của tỉnh về công tác quản lý, bảo vệ rừng và đất lâm nghiệp… UBND các xã, phường, đặc khu phải xác định quản lý, bảo vệ rừng và đất lâm nghiệp là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, thường xuyên; tăng cường tuyên truyền, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số và người dân sinh sống gần rừng; đồng thời đẩy mạnh kiểm tra, giám sát địa bàn, xử lý dứt điểm các vụ phá rừng, lấn chiếm, san gạt đất lâm nghiệp và kiên quyết không hợp thức hóa diện tích đất có nguồn gốc từ phá rừng, lấn chiếm trái pháp luật… Đối với các đơn vị chủ rừng yêu cầu thực hiện đầy đủ trách nhiệm quản lý, bảo vệ rừng và đất lâm nghiệp trên diện tích được giao; tăng cường tuần tra, kiểm tra, kịp thời phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm; quản lý chặt chẽ diện tích rừng và đất lâm nghiệp, không để xảy ra tình trạng lấn chiếm, sử dụng sai mục đích. Đồng thời, khẩn trương hoàn thiện phương án quản lý rừng bền vững, phương án sử dụng đất, phương án phòng cháy, chữa cháy rừng; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và công nghệ GIS trong theo dõi diễn biến rừng, phát hiện sớm mất rừng, cháy rừng và thực hiện nghiêm chế độ báo cáo. Người đứng đầu đơn vị phải chịu trách nhiệm trước pháp luật nếu để xảy ra tình trạng buông lỏng quản lý, dẫn đến phá rừng hoặc các vi phạm về đất lâm nghiệp… Bảo vệ rừng là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và mỗi người dân. Mỗi người hãy nâng cao ý thức chấp hành pháp luật, không phá rừng, không lấn chiếm đất lâm nghiệp, không tiếp tay cho các hành vi vi phạm; tích cực tham gia bảo vệ, phát triển rừng và kịp thời thông tin đến cơ quan chức năng khi phát hiện các hành vi xâm hại rừng. Sự chung tay của toàn xã hội sẽ góp phần quản lý, bảo vệ và phát triển rừng bền vững, giữ gìn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường sinh thái và tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Lâm Đồng. Ngọc Thủy- Phòng PBGDPL
14:13 10/08/2026
209
Một số điểm mới đáng chú ý của Nghị định số 177/2026/NĐ-CP
Vừa qua, Chính phủ ban hành Nghị định số 177/2026/NĐ-CP ngày 19 tháng 5 năm 2026 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật giám định tư pháp năm 2025. Nghị định có một số điểm mới đáng chú ý như sau: Nghị định hướng dẫn chi tiết từ tiêu chuẩn, điều kiện bổ nhiệm, trình tự cấp thẻ giám định viên tư pháp cũng như điều kiện hoạt động của các tổ chức giám định và chế độ báo cáo, thống kê định kỳ. Các trình tự, thủ tục như: bổ nhiệm và cấp thẻ giám định viên tư pháp, miễn nhiệm và thu hồi thẻ giám định viên tư pháp, bổ nhiệm lại và cấp thẻ giám định viên tư pháp, công nhận người giám định tư pháp theo vụ việc, thành lập và đăng ký hoạt động của văn phòng giám định tư pháp... được quy định cụ thể, rõ ràng về điều kiện, quy trình, thành phần hồ sơ, thời hạn giải quyết. Nghị định cũng quy định việc thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử: tổ chức, cá nhân thực hiện thủ tục hành chính trực tuyến trên Cổng Dịch vụ công Quốc gia hoặc ứng dụng định danh quốc gia (Khoản 2 Điều 2). Cơ quan thực hiện thủ tục hành chính khai thác thông tin, dữ liệu trong Cơ sở dữ liệu quốc gia, Cơ sở dữ liệu chuyên ngành và hệ thống thông tin theo quy định pháp luật về thủ tục hành chính để giải quyết thủ tục hành chính trên môi trường điện tử; không yêu cầu cá nhân, tổ chức cung cấp, xuất trình những giấy tờ, tài liệu đã có trong các cơ sở dữ liệu và hệ thống thông tin này, trừ trường hợp không khai thác được thông tin hoặc thông tin khai thác không đầy đủ, không chính xác (Khoản 3 Điều 2). Bên cạnh đó, Nghị định cũng quy định về hệ thống tổ chức giám định tư pháp công lập bao gồm tổ chức giám định tư pháp công lập về pháp y, tổ chức giám định tư pháp công lập về pháp y tâm thần và tổ chức giám định tư pháp công lập về kỹ thuật hình sự (Điều 10). Ngoài ra, các quy định mới về chi phí, nguyên tắc thanh toán và quản lý kinh phí được bổ sung chi tiết tại Nghị định số 177/2026/NĐ-CP (Điều 35). Đối với lĩnh vực giám định có tổ chức giám định tư pháp công lập thì việc dự toán, thanh toán, quyết toán chi phí giám định tư pháp trên cơ sở định mức chi phí giám định do bộ, cơ quan ngang bộ quản lý chuyên môn lĩnh vực giám định quy định và yêu cầu thực tế. Đối với lĩnh vực giám định khác thì việc tính dự toán, thanh toán, quyết toán chi phí giám định tư pháp trên cơ sở chi phí thực tế phát sinh, quy định của pháp luật về chi phí tố tụng và pháp luật khác có liên quan Trường hợp tổ chức giám định tư pháp công lập không phải là đơn vị sự nghiệp công lập do ngân sách nhà nước bảo đảm kinh phí hoạt động thực hiện giám định theo yêu cầu của người yêu cầu giám định tư pháp thì việc tạm ứng, thanh toán chi phí giám định tư pháp trên cơ sở định mức chi phí giám định do bộ, cơ quan ngang bộ quản lý chuyên môn lĩnh vực giám định tư pháp quy định và theo quy định pháp luật về ngân sách nhà nước. Người giám định tư pháp theo vụ việc của Chi cục Kiểm lâm tỉnh thực hiện nhiệm vụ Nghị định cũng quy định các chính sách hỗ trợ đặc thù, vượt trội cho người giám định tư pháp (Điều 36). Người giám định tư pháp hưởng lương từ ngân sách nhà nước trong lĩnh vực, chuyên ngành có tính chất nguy hiểm, độc hại, khó thu hút tham gia hoạt động giám định tư pháp được hưởng chính sách hỗ trợ đặc thù, vượt trội theo quy định của pháp luật. Người tham gia đào tạo, bồi dưỡng chuyên ngành pháp y, pháp y tâm thần được miễn, giảm học phí theo quy định của Nghị định số 238/2025/NĐ-CP quy định về chính sách học phí, miễn, giảm, hỗ trợ học phí, hỗ trợ chi phí học tập và giá dịch vụ trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo. Tổ chức, cá nhân có thành tích xuất sắc trong thực hiện nhiệm vụ giám định tư pháp thì được Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố hoặc cơ quan khác có thẩm quyền tôn vinh, khen thưởng. Công chức, viên chức; sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ; quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức trong cơ quan, đơn vị thuộc quân đội nhân dân; công nhân trong cơ quan, đơn vị thuộc công an nhân dân hoàn thành tốt nhiệm vụ giám định tư pháp được giao kiêm nhiệm thì được ưu tiên bố trí công việc, phát triển nghề nghiệp và trong công tác quy hoạch, đào tạo, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại. Nghị định số 177/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 5 năm 2026. Nguyễn Trinh – Phòng Bổ trợ tư pháp
14:09 10/08/2026
125
MỘT SỐ ĐIỂM MỚI CỦA NGHỊ ĐỊNH SỐ 281/2026/NĐ-CP NGÀY 13/7/2026 SỬA ĐỔI, BỔ SUNG NGHỊ ĐỊNH SỐ 123/2024/NĐ-CP VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI
Ngày 13/7/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 281/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 123/2024/NĐ-CP ngày 04/10/2024 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai. Qua hơn 01 năm triển khai thực hiện, Nghị định số 123/2024/NĐ-CP đã góp phần nâng cao hiệu quả quản lý đất đai, tăng cường tính răn đe đối với các hành vi vi phạm. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng cho thấy vẫn còn một số quy định chưa thật sự rõ ràng, phát sinh nhiều cách hiểu khác nhau trong quá trình xử phạt, đặc biệt đối với việc xác định hành vi vi phạm, xác định số lợi bất hợp pháp, áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả và thẩm quyền xử phạt của các cơ quan có thẩm quyền. Để khắc phục những tồn tại này, Nghị định số 281/2026/NĐ-CP đã sửa đổi, bổ sung nhiều quy định quan trọng, góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý, bảo đảm việc xử lý vi phạm hành chính được thống nhất và hiệu quả hơn. Một trong những điểm mới đáng chú ý nhất của Nghị định số 281/2026/NĐ-CP là bổ sung Điều 3a quy định về nguyên tắc xác định hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai. Trước đây, Nghị định số 123/2024/NĐ-CP chưa có quy định riêng về nội dung này nên trong quá trình áp dụng pháp luật, nhiều địa phương gặp khó khăn khi xác định hành vi vi phạm trong các trường hợp có nhiều hành vi liên quan hoặc hành vi kéo dài qua nhiều thời điểm. Việc bổ sung nguyên tắc xác định hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai đã tạo cơ sở pháp lý thống nhất để cơ quan có thẩm quyền xác định đúng hành vi vi phạm, tránh tình trạng xử phạt không thống nhất giữa các địa phương, đồng thời bảo đảm nguyên tắc xử phạt đúng người, đúng hành vi và đúng quy định của pháp luật. Một nội dung quan trọng khác được sửa đổi là quy định về xác định số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm hành chính. Theo Nghị định số 123/2024/NĐ-CP, việc xác định khoản lợi bất hợp pháp trong một số trường hợp còn thiếu căn cứ cụ thể nên quá trình áp dụng ở địa phương còn gặp nhiều khó khăn, dẫn đến cách tính không thống nhất. Nghị định số 281/2026/NĐ-CP đã sửa đổi, bổ sung phương pháp xác định số lợi bất hợp pháp theo hướng cụ thể, rõ ràng hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan có thẩm quyền trong việc áp dụng biện pháp buộc nộp lại khoản lợi bất hợp pháp, đồng thời bảo đảm tính công bằng và hạn chế thất thu ngân sách nhà nước. Đối với hành vi không đăng ký biến động đất đai, Nghị định số 281/2026/NĐ-CP cũng có những điều chỉnh, sửa đổi quan trọng. So với quy định tại Nghị định số 123/2024/NĐ-CP, các quy định mới đã sửa đổi theo hướng phù hợp hơn với Luật Đất đai năm 2024, làm rõ các trường hợp phải đăng ký biến động, thời điểm xác định hành vi vi phạm cũng như việc áp dụng chế tài xử phạt. Những sửa đổi này góp phần nâng cao trách nhiệm của người sử dụng đất trong việc thực hiện đăng ký biến động đất đai, đồng thời bảo đảm tính chính xác của hồ sơ địa chính và cơ sở dữ liệu đất đai. Theo Nghị định số 123/2024/NĐ-CP, phạm vi xử phạt của Chủ tịch UBND cấp xã còn hạn chế, dẫn đến nhiều vụ việc phải chuyển lên cấp huyện để xử lý, kéo dài thời gian giải quyết. Nghị định số 281/2026/NĐ-CP đã điều chỉnh thẩm quyền theo hướng phù hợp với quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính hiện hành, tạo điều kiện để chính quyền cấp cơ sở chủ động xử lý kịp thời các vi phạm phát sinh trên địa bàn, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và giảm áp lực cho cơ quan cấp trên. Cùng với đó, thẩm quyền xử phạt của cơ quan thanh tra cũng được sửa đổi, bổ sung nhằm bảo đảm thống nhất với các quy định mới về tổ chức và hoạt động thanh tra. So với Nghị định số 123/2024/NĐ-CP, các quy định mới đã điều chỉnh phạm vi thẩm quyền của lực lượng thanh tra trong việc lập biên bản, xử phạt và áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả, qua đó bảo đảm sự đồng bộ giữa pháp luật về thanh tra và pháp luật xử lý vi phạm hành chính. Để bảo đảm việc áp dụng pháp luật được liên tục, thống nhất, Nghị định số 281/2026/NĐ-CP cũng bổ sung quy định về điều khoản chuyển tiếp. Những quy định này làm rõ việc xử lý đối với các vụ việc đã được phát hiện hoặc đang trong quá trình giải quyết trước thời điểm Nghị định có hiệu lực, góp phần hạn chế những khó khăn, vướng mắc trong quá trình chuyển tiếp từ quy định cũ sang quy định mới. Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 31/8/2026 nhằm tiếp tục hoàn thiện các quy định về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, bảo đảm phù hợp với Luật Đất đai năm 2024, Luật Xử lý vi phạm hành chính và đáp ứng yêu cầu thực tiễn trong công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai. Thảo My – Phòng QLXLVPHC & TDTHPL
11:37 07/08/2026
367
Bổ sung thủ tục cấp thẻ Căn cước cho trẻ em dưới 6 tuổi khi thực hiện liên thông thủ tục hành chính đăng ký khai sinh
Ngày 30/7/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định 301/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 63/2024/NĐ-CP quy định việc thực hiện liên thông điện tử 02 nhóm thủ tục hành chính: đăng ký khai sinh, đăng ký thường trú, cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi; đăng ký khai tử, xóa đăng ký thường trú, giải quyết mai táng phí, tử tuất. Nghị định 301/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/9/2026. Theo đó, tại Điều 1 Nghị định 301/2026/NĐ-CP đã sửa đổi phạm vi điều chỉnh của Nghị định 63/2024/NĐ-CP, bổ sung thêm thủ tục cấp thẻ Căn cước cho trẻ em dưới 6 tuổi trong quy trình liên thông điện tử ngoài đăng ký khai sinh, đăng ký thường trú và cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi. Quy trình tích hợp thủ tục hành chính liên thông Nghị định 301/2026/NĐ-CP đã bổ sung khoản 3a Điều 8 Nghị định 63/2024/NĐ-CP quy định cụ thể quy trình cấp thẻ Căn cước cho trẻ dưới 6 tuổi trong cơ chế liên thông điện tử như sau: Việc cấp thẻ căn cước cho trẻ em dưới 6 tuổi trong quy trình liên thông điện tử chỉ thực hiện khi người đại diện hợp pháp có đề nghị cấp thẻ căn cước cho trẻ tại bước nộp hồ sơ trực tuyến theo quy định tại Điều 7 Nghị định 63/2024/NĐ-CP. Sau khi Hệ thống thông tin quản lý cư trú của Bộ Công an chuyển bản điện tử Thông báo kết quả giải quyết đăng ký thường trú sang Cổng Dịch vụ công quốc gia, sau đó Cổng Dịch vụ công quốc gia phân tách, chuyển hồ sơ điện tử (biểu mẫu, tờ khai người yêu cầu đã kê khai) đến Hệ thống sản xuất, cấp và quản lý căn cước của Bộ Công an để thực hiện cấp thẻ căn cước theo quy định của Luật Căn cước 2023. Ngay sau khi hồ sơ điện tử được chuyển đến Hệ thống sản xuất, cấp, quản lý căn cước, cán bộ công an tiếp nhận, thực hiện nghiệp vụ cấp thẻ căn cước; thực hiện trích xuất dữ liệu điện tử khai sinh và thẻ Bảo hiểm y tế đã được cấp trong quy trình liên thông để tích hợp thông tin vào thẻ căn cước và tài khoản định danh điện tử của trẻ em theo quy định của pháp luật về căn cước trên Hệ thống sản xuất, cấp và quản lý căn cước. Đối với trẻ em dưới 6 tuổi, cơ quan quản lý căn cước không thu nhận thông tin nhân dạng và thông tin sinh trắc học theo quy định tại khoản 2 Điều 23 Luật Căn cước 2023. Thời gian giải quyết cấp thẻ căn cước không quá 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ điện tử trên hệ thống. Hình ảnh: Người dân liên hệ làm thủ tục hành chính tại Trung tâm Phục vụ hành chính công phường Xuân Hương – Đà Lạt Bên cạnh đó, một điểm đáng chú ý được bổ sung tại Nghị định 301/2026/NĐ-CP là sau khi tiếp nhận hồ sơ đăng ký khai sinh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã đồng thời xem xét, quyết định việc hỗ trợ tài chính khi sinh con và thực hiện chi trả cho phụ nữ sinh con theo quy định pháp luật dân số. Tờ khai điện tử liên thông đăng ký khai sinh, đăng ký thường trú, cấp thẻ bảo hiểm y tế, cấp thẻ căn cước cho trẻ em dưới 6 tuổi được thực hiện theo Mẫu số 01 ban hành kèm theo Nghị định 301/2026/NĐ-CP. Việc bổ sung thủ tục cấp thẻ Căn cước cho trẻ em dưới 6 tuổi khi liên thông thủ tục hành chính đăng ký khai sinh, đăng ký thường trú, cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi góp phần tạo thuận lợi cho người dân, giảm thủ tục hành chính, bảo đảm quyền lợi của trẻ em và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước thông qua việc liên thông, số hóa dữ liệu. Lê Huân – Phòng Hành chính tư pháp
10:58 06/08/2026
168
TĂNG CƯỜNG TUYÊN TRUYỀN, NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHÒNG NGỪA, ĐẤU TRANH VỚI TỘI PHẠM LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRONG TÌNH HÌNH MỚI
Vừa qua, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 30/CT-TTg ngày 30/7/2026 về tiếp tục nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa, đấu tranh, xử lý hoạt động lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong tình hình mới. Chỉ thị được ban hành trong bối cảnh tình hình tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản, đặc biệt là lừa đảo trên không gian mạng, tiếp tục diễn biến phức tạp, tinh vi, gây thiệt hại lớn về tài sản, ảnh hưởng đến an ninh, trật tự và đời sống của Nhân dân. Theo Chỉ thị, thời gian qua các bộ, ngành, địa phương đã triển khai nhiều giải pháp quyết liệt trong công tác phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản và đạt được những kết quả tích cực. Tuy nhiên, công tác này vẫn còn những hạn chế như: hoạt động tuyên truyền chưa theo kịp phương thức, thủ đoạn mới của tội phạm; công tác quản lý nhà nước ở một số lĩnh vực còn sơ hở; tình trạng mua bán dữ liệu cá nhân, dữ liệu định danh điện tử, tài khoản ngân hàng, SIM điện thoại, tài khoản mạng xã hội không chính chủ vẫn diễn ra; việc phối hợp trao đổi thông tin, ngăn chặn dòng tiền và thu hồi tài sản bị chiếm đoạt còn gặp nhiều khó khăn. Trước thực trạng đó, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành, địa phương tiếp tục xác định công tác phòng ngừa, đấu tranh, xử lý hoạt động lừa đảo chiếm đoạt tài sản là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên gắn với bảo đảm an ninh, trật tự và phát triển kinh tế - xã hội, không để hình thành các điểm, tụ điểm hoạt động lừa đảo trên địa bàn và lĩnh vực quản lý. Một trong những nội dung trọng tâm của Chỉ thị là đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao nhận thức và kỹ năng nhận diện các phương thức, thủ đoạn lừa đảo cho người dân. Các cơ quan, đơn vị cần đổi mới nội dung và hình thức tuyên truyền theo hướng thiết thực, phù hợp với từng nhóm đối tượng, thường xuyên cập nhật, cảnh báo các thủ đoạn lừa đảo mới, nhất là lừa đảo trực tuyến, lừa đảo sử dụng công nghệ cao. Đồng thời, tăng cường ứng dụng công nghệ số, nền tảng số, mạng xã hội và các phương tiện thông tin đại chúng để truyền tải thông tin cảnh báo nhanh chóng, kịp thời và rộng khắp đến người dân. Đẩy mạnh tập huấn công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao nhận thức và kỹ năng nhận diện các phương thức, thủ đoạn lừa đảo Bên cạnh đó, Chỉ thị yêu cầu các bộ, ngành, địa phương chủ động rà soát, khắc phục những sơ hở, bất cập trong công tác quản lý nhà nước ở các lĩnh vực tiềm ẩn nhiều nguy cơ bị lợi dụng để thực hiện hành vi lừa đảo như: viễn thông, ngân hàng, trung gian thanh toán, thương mại điện tử, quản lý đất đai, đầu tư, chứng khoán, bảo hiểm, y tế, giáo dục, du lịch và việc làm,… đồng thời tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách, quy trình quản lý nhằm phòng ngừa hiệu quả các hành vi vi phạm. Chỉ thị cũng nhấn mạnh việc tăng cường ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong công tác quản lý nhà nước, phòng ngừa và phát hiện tội phạm, đẩy nhanh việc kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ sở dữ liệu chuyên ngành với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để phục vụ công tác xác minh, cảnh báo sớm và xử lý các giao dịch có dấu hiệu vi phạm pháp luật. Đồng thời, tăng cường hợp tác quốc tế trong phòng, chống tội phạm lừa đảo xuyên quốc gia; nâng cao hiệu quả phối hợp trong trao đổi thông tin, truy vết dòng tiền, thu thập chứng cứ điện tử, dẫn độ và tương trợ tư pháp về hình sự. Để bảo đảm việc triển khai Chỉ thị đạt hiệu quả, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra liên ngành đối với các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp có liên quan, kịp thời phát hiện, chấn chỉnh những sơ hở, thiếu sót trong công tác quản lý, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm hoặc buông lỏng quản lý theo quy định của pháp luật. Việc triển khai thực hiện hiệu quả Chỉ thị số 30/CT-TTg sẽ góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội trong phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, tạo môi trường an toàn, lành mạnh phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và quá trình chuyển đổi số quốc gia. Sở Tư pháp tổ chức Hội nghị tập huấn lồng ghép các nội dung tuyên truyền các phương thức, thủ đoạn lừa đảo mới để cảnh báo người dân và các đối tượng học sinh, sinh viên Đối với tỉnh Lâm Đồng, các cơ quan, đơn vị, địa phương cần tiếp tục đẩy mạnh công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng, chống tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tăng cường tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng, nền tảng số và mạng xã hội, thường xuyên cập nhật các phương thức, thủ đoạn lừa đảo mới để cảnh báo người dân, đồng thời nâng cao trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức trong thực hiện nhiệm vụ, góp phần xây dựng môi trường số an toàn, bảo đảm an ninh, trật tự và phục vụ hiệu quả mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Tường Vy - Phòng PBGDPL
10:45 06/08/2026
179
Liên kết
Thống kê truy cập
  • Đang online: 44
  • Hôm nay: 309
  • Trong tuần: 15267
  • Trong tháng: 75936
  • Tổng truy cập: 445301