Hỏi: Người đã trưởng thành nhưng chưa từng được đăng ký khai sinh, không có giấy tờ tùy thân và không có nơi cư trú ổn định thì có được đăng ký khai sinh hay không?
Đáp: Theo quy định của pháp luật về hộ tịch, mọi cá nhân đều có quyền được đăng ký khai sinh, kể cả trường hợp đã trưởng thành nhưng trước đây chưa được đăng ký và hiện không có giấy tờ tùy thân. Việc đăng ký khai sinh nhằm bảo đảm quyền nhân thân và là cơ sở để công dân thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
Khoản 2 Điều 2 Luật Hộ tịch số 60/2014/QH13 quy định: “Đăng ký hộ tịch là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận hoặc ghi vào Sổ hộ tịch các sự kiện hộ tịch của cá nhân, tạo cơ sở pháp lý để Nhà nước bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, thực hiện quản lý về dân cư”.
Khoản 1 Điều 8 Luật Hộ tịch số 60/2014/QH13 quy định: “Nhà nước có chính sách, biện pháp đồng bộ, tạo điều kiện để cá nhân thực hiện quyền, nghĩa vụ đăng ký hộ tịch”.
Khoản 2 Điều 5 Luật Hộ tịch số 60/2014/QH13 quy định: “Mọi sự kiện hộ tịch cá nhân phải được đăng ký đầy đủ, kịp thời, trung thực, khách quan và chính xác…”.

Hỏi: Trong trường hợp không có giấy tờ tùy thân, việc đăng ký khai sinh được thực hiện như thế nào? Nếu không xác định được cha, mẹ thì thông tin khai sinh được ghi nhận ra sao?
Đáp: Để đảm bảo quyền lợi của người dân, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đang sinh sống sẽ phối hợp với cơ quan công an và các cơ quan liên quan để xác minh thông tin về nhân thân, nơi sinh, quá trình cư trú và mối quan hệ gia đình. Kết quả xác minh là căn cứ quan trọng để thực hiện việc đăng ký khai sinh theo quy định.
Trường hợp không có căn cứ xác định cha, mẹ, cơ quan đăng ký hộ tịch sẽ áp dụng các quy định hiện hành của Bộ Tư pháp để xác định nội dung khai sinh phù hợp, bảo đảm đúng pháp luật và quyền lợi của người được đăng ký. Tại khoản 4 Điều 9 Thông tư số 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2020 của Bộ Tư pháp quy định: “Trường hợp giấy tờ của người yêu cầu đăng ký lại khai sinh không có thông tin chứng minh quan hệ cha, mẹ, con thì cơ quan đăng ký hộ tịch có văn bản đề nghị cơ quan công an có thẩm quyền xác minh. Trường hợp cơ quan công an trả lời không có thông tin thì cơ quan đăng ký hộ tịch cho người yêu cầu đăng ký lại khai sinh lập văn bản cam đoan về thông tin của cha, mẹ theo quy định tại Điều 4, Điều 5 Thông tư này và xác định nội dung khai sinh theo văn bản cam đoan”.
Hỏi: Giấy khai sinh được cấp trong trường hợp này có giá trị pháp lý như thế nào?
Đáp: Giấy khai sinh là giấy tờ hộ tịch gốc, có giá trị pháp lý làm cơ sở để người được đăng ký thực hiện các thủ tục tiếp theo như đăng ký cư trú, cấp căn cước công dân và các quyền, lợi ích hợp pháp khác. Khoản 1, khoản 2 Điều 6 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP quy định: “(1) Giấy khai sinh là giấy tờ hộ tịch gốc của cá nhân”, (2) Mọi hồ sơ, giấy tờ của cá nhân có nội dung về họ, chữ đệm, tên; ngày, tháng, năm sinh; giới tính, dân tộc; quốc tịch; quê quán; quan hệ cha, mẹ, con phải phù hợp với Giấy khai sinh của người đó”.
Khuyến nghị: Người dân trong trường hợp chưa có giấy khai sinh cần chủ động liên hệ Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đang sinh sống để được hướng dẫn, hỗ trợ kịp thời, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định của pháp luật.
Pháp luật hộ tịch luôn bảo đảm quyền được đăng ký khai sinh của mọi công dân, kể cả người đã trưởng thành, không có giấy tờ tùy thân hay nơi cư trú ổn định. Không ai bị bỏ lại ngoài “vùng bảo hộ” của pháp luật.
Nhà nước và chính quyền cơ sở có trách nhiệm chủ động hỗ trợ người dân, thông qua việc phối hợp xác minh, hướng dẫn và giải quyết thủ tục hộ tịch, nhằm bảo vệ quyền nhân thân hợp pháp.
Giấy khai sinh là nền tảng pháp lý quan trọng nhất của mỗi cá nhân, là cơ sở để người dân tiếp cận các quyền lợi cơ bản như cư trú, căn cước công dân, an sinh xã hội.
Kim Oanh, Phòng HCTP