Thực hiện quy định chính sách hỗ trợ và mức chi đào tạo, bồi dưỡng được thực hiện trên cơ sở các nghị quyết của Hội đồng nhân dân ba tỉnh Lâm Đồng, Bình Thuận và Đắk Nông (trước sắp xếp đơn vị hành chính). Việc thực hiện các chính sách nêu trên đã tạo cơ sở pháp lý để các cơ quan, đơn vị xây dựng kế hoạch, bố trí kinh phí và tổ chức đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; góp phần nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, lý luận chính trị, kỹ năng quản lý nhà nước và năng lực thực thi công vụ, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao.

Tuy nhiên, sau khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, các chính sách hỗ trợ và mức chi đào tạo, bồi dưỡng được ban hành tại ba địa phương trước đây có sự khác nhau về đối tượng áp dụng, điều kiện hỗ trợ, nội dung chi và mức chi. Bên cạnh đó, một số quy định được ban hành từ những năm trước cần được rà soát, điều chỉnh để phù hợp với quy định pháp luật hiện hành, tình hình kinh tế - xã hội và yêu cầu phát triển nguồn nhân lực của tỉnh sau sắp xếp. Việc tồn tại nhiều chính sách với các mức hỗ trợ khác nhau trên cùng địa bàn tỉnh gây khó khăn trong quá trình tổ chức thực hiện, lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí; đồng thời đặt ra yêu cầu phải thống nhất chính sách nhằm bảo đảm tính đồng bộ, công bằng giữa các đối tượng thụ hưởng.
Từ thực tiễn nêu trên, việc ban hành nghị quyết mới quy định thống nhất chính sách hỗ trợ và mức chi đào tạo, bồi dưỡng trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng là cần thiết, nhằm khắc phục những bất cập của các quy định trước đây, tạo cơ sở pháp lý thống nhất để các cơ quan, đơn vị triển khai thực hiện, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước và thực hiện nhiệm vụ trong tình hình mới.
Ngày 27/10/2026, UBND tỉnh Lâm Đồng ban hành Kế hoạch số 18634/KH-UBND triển khai thực hiện Nghị quyết số 60/2026/NQ-HĐND ngày 24/9/2026 của Hội đồng nhân dân tỉnh quy định chính sách hỗ trợ và mức chi đào tạo, bồi dưỡng trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng. Đây là cơ sở quan trọng nhằm tổ chức thực hiện thống nhất các chính sách đào tạo, bồi dưỡng, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.
Thứ nhất, triển khai chính sách đào tạo, bồi dưỡng công khai, thống nhất và hiệu quả. Theo Kế hoạch, việc triển khai Nghị quyết số 60/2026/NQ-HĐND nhằm bảo đảm các cơ quan, đơn vị, địa phương và đối tượng thuộc phạm vi áp dụng nắm rõ chính sách, điều kiện, trình tự, thủ tục và trách nhiệm trong công tác đào tạo, bồi dưỡng. Việc thực hiện chính sách phải gắn với nhu cầu vị trí việc làm, yêu cầu xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; bảo đảm công khai, đúng đối tượng, đúng quy định, tiết kiệm và phù hợp khả năng cân đối ngân sách.
Thứ hai, quy định cụ thể trình tự thực hiện chính sách hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng. Đối với đào tạo sau đại học, hằng năm, các cơ quan, đơn vị, địa phương có trách nhiệm rà soát, đăng ký nhu cầu gửi Sở Nội vụ tổng hợp, thẩm định, trình UBND tỉnh phê duyệt trong kế hoạch đào tạo chung của tỉnh.
Trên cơ sở kế hoạch được phê duyệt, các cơ quan, đơn vị lập dự toán kinh phí hỗ trợ theo quy định; đề nghị phê duyệt danh sách cử đi đào tạo. Sau khi có kết quả trúng tuyển, hồ sơ được hoàn thiện, gửi cơ quan có thẩm quyền xem xét, ban hành quyết định cử đi đào tạo. Việc chi trả chính sách hỗ trợ thực hiện theo Nghị quyết số 60/2026/NQ-HĐND và các quy định có liên quan.
Đối với công tác bồi dưỡng, các cơ quan, đơn vị, địa phương rà soát nhu cầu hằng năm, đăng ký với Sở Nội vụ để tổng hợp, trình UBND tỉnh phê duyệt kế hoạch. Căn cứ kế hoạch và kinh phí được phê duyệt, các đơn vị tổ chức thực hiện các lớp bồi dưỡng theo nhiệm vụ được giao, đồng thời theo dõi, tổng hợp và báo cáo kết quả thực hiện.
Đối với hỗ trợ đào tạo lý luận chính trị, các cơ quan, đơn vị có cán bộ, công chức, viên chức được cử đi đào tạo cao cấp lý luận chính trị hệ tập trung thực hiện lập dự toán kinh phí hỗ trợ theo quy định. Trường hợp cán bộ, công chức, viên chức tốt nghiệp lý luận chính trị xếp loại xuất sắc, cơ quan, đơn vị lập dự toán, báo cáo Sở Tài chính để trình UBND tỉnh xem xét, phê duyệt hỗ trợ theo quy định.
Thứ ba, xác định rõ trách nhiệm và thời hạn thực hiện. UBND tỉnh quy định cụ thể các mốc thời gian triển khai công tác đào tạo, bồi dưỡng hằng năm, gồm: Trước ngày 10/11, các cơ quan, đơn vị, địa phương hoàn thành rà soát, đăng ký nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng và dự toán kinh phí năm tiếp theo; trước ngày 15/11, Sở Nội vụ tham mưu UBND tỉnh ban hành kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng năm tiếp theo; trước ngày 15/12, các cơ quan, đơn vị, địa phương gửi báo cáo kết quả thực hiện công tác đào tạo, bồi dưỡng về Sở Nội vụ; trước ngày 31/12, Sở Tài chính trình UBND tỉnh xem xét, phê duyệt kinh phí đào tạo, bồi dưỡng năm tiếp theo; trước ngày 15/01 năm sau, các cơ quan, đơn vị, địa phương hoàn thành ban hành kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng thuộc thẩm quyền.
Đáng chú ý, Kế hoạch quy định trường hợp cán bộ, công chức, viên chức đã được phê duyệt đào tạo trong 02 năm liên tục nhưng không tham gia tuyển sinh hoặc tham gia nhưng không trúng tuyển thì không tiếp tục đăng ký phê duyệt đào tạo trong năm thứ ba liền kề. Đồng thời, các cơ quan, đơn vị có trách nhiệm theo dõi tiến độ, kết quả học tập của người được cử đi đào tạo; thực hiện đánh giá, xếp loại chất lượng cuối năm theo quy định đối với trường hợp không hoàn thành tiến độ, kế hoạch đào tạo.
Thứ tư, tăng cường tuyên truyền, phổ biến chính sách đến các đối tượng thụ hưởng. UBND tỉnh giao Sở Nội vụ chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan đăng tải toàn văn Nghị quyết số 60/2026/NQ-HĐND và các văn bản hướng dẫn để cán bộ, công chức, viên chức và các đối tượng có liên quan tiếp cận, nắm bắt chính sách.
Sở Tư pháp có trách nhiệm lồng ghép tuyên truyền, phổ biến nội dung chính sách hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng vào các chương trình, kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật của tỉnh. Các sở, ban, ngành, đơn vị sự nghiệp công lập và UBND các xã, phường, đặc khu tổ chức phổ biến, công khai chính sách đến các đối tượng thuộc phạm vi áp dụng, bảo đảm thực hiện tối thiểu 01 lần/năm thông qua hội nghị, hội thảo hoặc hình thức phù hợp.
Bên cạnh đó, công tác quản lý, sử dụng và thanh quyết toán kinh phí đào tạo, bồi dưỡng phải bảo đảm đúng mục đích, đúng đối tượng, chế độ, tiêu chuẩn, định mức; tăng cường kiểm tra, giám sát và thực hiện trách nhiệm đền bù kinh phí đào tạo khi phát sinh trường hợp thuộc diện phải đền bù theo quy định.
Việc triển khai Nghị quyết số 60/2026/NQ-HĐND và Kế hoạch số 18634/KH-UBND góp phần tạo sự thống nhất trong tổ chức thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng trên địa bàn tỉnh; nâng cao trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị trong việc xây dựng kế hoạch, bố trí kinh phí và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực sau đào tạo, đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong giai đoạn hiện nay.
Văn phòng Sở