Theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015, di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Trong thực tế, nhiều người cho rằng chỉ cần di chúc được công chứng thì đương nhiên có giá trị pháp lý tuyệt đối. Tuy nhiên, trên thực tế quan điểm này chưa hoàn toàn chính xác, vì pháp luật vẫn quy định những trường hợp di chúc đã được công chứng có thể bị Tòa án tuyên vô hiệu nếu không đáp ứng các điều kiện hợp pháp.
Cụ thể, theo quy định tại Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015, di chúc được coi là hợp pháp khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện: người lập di chúc phải minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; việc lập di chúc hoàn toàn tự nguyện; nội dung di chúc không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội; và hình thức di chúc phải phù hợp với quy định của pháp luật. Nếu một trong các điều kiện này không được bảo đảm, di chúc có thể bị tuyên vô hiệu dù đã được công chứng.

Khách hàng đang thực hiện thủ tục tại Phòng Công chứng
Thứ nhất, tại thời điểm lập di chúc người lập di chúc không minh mẫn, sáng suốt. Nếu có căn cứ chứng minh người lập di chúc đang mắc bệnh tâm thần, bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc không làm chủ được hành vi của mình, thì di chúc đó có thể bị Tòa án xem xét tuyên vô hiệu theo quy định của tại Điều 630 của Luật Dân sự năm 2015.
Thứ hai, trường hợp việc lập di chúc không xuất phát từ ý chí tự nguyện. Theo quy định của pháp luật, nếu người lập di chúc bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép, dẫn đến việc định đoạt tài sản không phản ánh đúng ý chí thực sự của họ, thì di chúc có thể bị vô hiệu. Nguyên tắc tự nguyện là một trong những điều kiện cốt lõi để bảo đảm giá trị pháp lý của di chúc.
Thứ ba, nội dung của di chúc vi phạm điều cấm của pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội. điển hình nhiều trường hợp việc định đoạt tài sản nhằm trốn tránh nghĩa vụ tài sản, hoặc đưa ra những điều kiện trái với chuẩn mực đạo đức xã hội, đều có thể khiến di chúc bị tuyên vô hiệu theo quy định pháp luật.
Thứ tư, di chúc không tuân thủ đúng quy định về hình thức và thủ tục. Theo các quy định liên quan tại Điều 631 và Điều 633 của Bộ luật Dân sự 2015, di chúc phải bảo đảm các yếu tố về hình thức như chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc, người làm chứng (nếu có), cũng như trình tự công chứng hoặc chứng thực theo đúng quy định. Nếu các thủ tục này không được thực hiện đúng, di chúc có thể bị xem xét vô hiệu.
Thứ năm, di chúc định đoạt tài sản không thuộc quyền sở hữu của người lập di chúc, chẳng hạn, trong trường hợp tài sản là tài sản chung của vợ chồng hoặc của nhiều người, người lập di chúc chỉ có quyền định đoạt phần tài sản thuộc sở hữu của mình. Nếu di chúc định đoạt toàn bộ tài sản chung mà không có sự đồng ý của các đồng sở hữu khác, phần vượt quá sẽ không được công nhận.
Ngoài ra, theo Điều 643 của Bộ luật Dân sự 2015, di chúc cũng có thể không có hiệu lực trong một số trường hợp như: người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được chỉ định thừa kế không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế; hoặc tài sản để lại thừa kế không còn vào thời điểm mở thừa kế.
Từ những quy định nêu trên cho thấy, việc công chứng di chúc giúp tăng tính xác thực và giá trị chứng cứ nhưng không phải là yếu tố mang tính tuyệt đối để di chúc luôn có hiệu lực pháp lý. Vì vậy, để hạn chế tranh chấp thừa kế có thể phát sinh, người dân khi lập di chúc cần bảo đảm các yếu tố như: minh mẫn, tự nguyện, nội dung hợp pháp và tuân thủ đúng quy định về hình thức, thủ tục. Bên cạnh đó, UBND các xã, phường và các tổ chức hành nghề công chứng cần phải tư vấn, giải thích rõ quy định pháp luật có liên quan đến các điều kiện lập di chúc, các quyền và nghĩa vụ của người lập di chúc khi có yêu cầu.
Việc tìm hiểu và tuân thủ đúng quy định của pháp luật về thừa kế không chỉ giúp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan mà còn góp phần giữ gìn sự đoàn kết, hòa thuận trong gia đình và xã hội.
Võ Luân - Phòng PBGDPL