Một số vụ việc hòa giải ở cơ sở điển hình - Phần 1 vụ việc trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình (tình huống 1-2-3)
27/06/2022 07:43 | 
 97
Một số vụ việc hòa giải ở cơ sở điển hình - Phần 1 vụ việc trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình (tình huống 1-2-3)
* Tình huống 1. Gia đình là số 1
a. Nội dung vụ việc
Anh Nguyễn Trung K và chị Phạm Thị N kết hôn năm 1994. Cả hai vợ chồng anh chị đều là cán bộ, công chức và đến nay đã có hai con, một trai, một gái. Những năm đầu, cuộc sống gia đình anh chị rất đầm ấm, hạnh phúc. Thế nhưng, hai năm trở lại đây anh K thường xuyên về nhà muộn, bỏ bê việc gia đình, ít quan tâm đến gia đình. Thấy chồng mình thay đổi, chị N rất buồn. Hai người thường xuyên cãi nhau, lời ra tiếng vào, dẫn đến xô xát giữa hai anh chị, đồ đạc trong nhà bị anh K đập phá. Sau một thời gian, chị N làm đơn xin ly hôn gửi Tòa án.
b. Quá trình hòa giải
Biết thông tin chị N gửi đơn xin ly hôn đến Tòa án, tổ hoà giải thôn đã phối hợp với Chi hội phụ nữ đến gia đình tìm hiểu sự việc để thực hiện việc hoà giải. Tổ hoà giải phân công cho bà D, bà H - tổ viên tổ hòa giải đến nhà gặp gỡ, trao đổi riêng với chị N. Tại buổi nói chuyện này, chị N phàn nàn anh K thường xuyên về nhà muộn, bỏ bê việc gia đình, không quan tâm đến con cái. Khi chị góp ý, anh K không những không nghe còn tỏ ra bực tức, nóng giận và nặng lời, đập phá đồ đạc trong nhà, khiến chị và các con vô cùng bất an.
Nghe tâm sự của chị N, bà D trao đổi với nội dung như sau: Là người phụ nữ, khi sự việc xảy ra trong gia đình, chị nên bình tĩnh, khuyên nhủ chồng mình, lựa chọn thời điểm hợp lý để góp ý. Đáng lẽ ra, chị cần kiềm chế sự nóng nảy, tìm cơ hội những lúc vợ chồng con cái vui vẻ, thuận lợi để góp ý cho nhau như câu ca dao: “chồng giận thì vợ bớt lời, cơm sôi nhỏ lửa chẳng đời nào khê”. Nhưng chị lại thiếu tế nhị, lại có những lời thách đố: “Tôi bỏ ông cho đáng đời, để xem ông lấy được đứa nào hơn tôi…” khác nào đổ thêm dầu vào lửa.
Ngoài ra, tổ trưởng tổ hòa giải cũng phân công cho ông Th - tổ viên tổ hòa giải gặp trực tiếp anh K để trao đổi. Cụ thể, anh K nói rằng, vợ mình không hiểu chồng, thường xuyên cằn nhằn, khó chịu, tỏ thái độ với chồng mà không tìm hiểu nguyên nhân vì sao chồng mình lại như vậy. Khi chồng nóng giận lại còn tỏ thái độ thách đố...
Nghe anh N tâm sự, ông Th đã trao đổi với nội dung như sau: Là người đàn ông, anh phải là người trụ cột và là tấm gương soi cho con cái trong gia đình, nghĩ ra việc lớn để giúp vợ con ổn định cuộc sống, cùng vợ có trách nhiệm với gia đình. Thực hiện đúng khoản 1 Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”, nhưng anh lại sa vào những cuộc chơi không mục đích, bỏ bê việc nhà, làm tổn thương đến tình cảm gia đình, lại còn có thái độ hăm dọa vợ con, đập phá tài sản… Bản thân anh cần phải bình tĩnh, nhìn lại thái độ và cách cư xử của mình xem đã đúng hay chưa? Dù đi đâu, làm gì bao giờ mỗi người cũng xác định gia đình là số 1, là quan trọng nhất, nên cần phải biết trân trọng, bảo vệ và vun đắp để vợ chồng cùng xây dựng gia đình, chăm sóc, nuôi dưỡng con cái trưởng thành, gia đình luôn luôn được yên vui, hạnh phúc.
Từ đó, các hoà giải viên đã chỉ ra cho anh chị thấy được những sai lầm, thiếu sót của mỗi bên đồng thời khuyên nhủ anh chị cần suy nghĩ về hạnh phúc gia đình mình, vì các con đang cần đến tình cảm, sự chăm sóc của những người làm cha, làm mẹ, hãy cân nhắc và thận trọng trong việc quyết định các vấn đề về hôn nhân... Hòa giải viên động viên anh chị hãy sống có trách nhiệm với bản thân, gia đình, chị N nên rút đơn ly hôn để anh K có cơ hội sửa chữa những việc làm, hành động chưa đúng, cùng nhau hướng tới một gia đình hạnh phúc bền lâu.
c. Kết quả hòa giải
Sau 10 ngày tích cực hoà giải, các hòa giải viên gặp trực tiếp phân tích, chị N đã rút đơn tại Tòa án, cả hai vợ chồng đều hứa quyết tâm thay đổi để xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc.

* Tình huống 2: “Sẩy cha còn chú, sẩy mẹ bú dì”
a. Nội dung vụ việc
Vợ chồng ông T và bà H sinh được ba người con là chị P, anh Ph và anh S. Sau khi chị P đi lấy chồng, anh Ph lấy vợ xin ra ở riêng, ông T và bà H quyết định sống chung với vợ chồng anh S. Bình thường, gia đình ông bà sống hòa thuận, đoàn kết không có mâu thuẫn, xích mích gì lớn xảy ra. Tuy nhiên, sự việc bắt đầu từ việc chị P có đứa con nhỏ ba tuổi (chồng chị không may mất từ khi đứa bé mới được một tuổi), nay cuộc sống khó khăn, không có thu nhập, chị phải đi làm ăn xa và đem gửi con sang cho bà H trông nom giúp. Từ khi có đứa cháu ngoại sang ở, bà H đã vất lại càng vất thêm vì phải trông nom một lúc cả ba cháu, một cháu ngoại và hai cháu nội trạc tuổi nhau. Nhiều lúc, các cháu đánh đuổi nhau, quấy khóc, bà H không kiềm chế nên càu nhàu, la mắng. Việc đưa đón các cháu đi học cũng không được kịp thời như trước, cộng thêm hoàn cảnh gia đình cũng còn nhiều khó khăn nên vợ chồng anh S bức xúc, không nhất trí, hay trách móc mẹ “ôm rơm nặng bụng”, nhận cháu ngoại về trông nom, trong khi các cháu nội còn chưa chăm được đến nơi, đến chốn. Mâu thuẫn giữa bà H và vợ chồng anh S cứ âm ỉ kéo dài, có lúc trở nên gay gắt. Bà H đá thúng, đụng nia rồi bỏ sang sống với vợ chồng anh Ph. Vợ chồng anh S suy nghĩ lại và muốn bà H trở về nhà đoàn tụ gia đình nên sang nhờ tổ hòa giải giúp đỡ.
b. Quá trình hòa giải
Sau khi nhận được đề nghị của vợ chồng anh S, tổ hòa giải đến gặp gỡ các thành viên gia đình ông T, bà H để tìm hiểu nguyên nhân sự việc phát sinh mâu thuẫn, xích mích. Tổ hòa giải xác định nguyên nhân mâu thuẫn giữa bà H và vợ chồng anh S xuất phát từ việc bà H nhận trông nom cháu ngoại là con của chị P để đỡ đần chị một thời gian do chồng mất sớm, cuộc sống khó khăn nay phải đi làm xa. Việc thêm thành viên trong gia đình lại thêm cuộc sống gia đình đang giai đoạn khó khăn, mất mùa, dịch bệnh gia súc, gia cầm, làm ăn khó khăn nên vợ chồng anh S bức xúc.
Ngay sau khi nắm được thông tin cụ thể về vụ việc, tổ hòa giải tiến hành mở phiên hòa giải với sự có mặt của vợ chồng bà H và vợ chồng anh S. Tổ hòa giải đã khuyên nhủ và vận dụng quy định tại Điều 104, Điều 105 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014..., ông bà nội, ông bà ngoại có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục cháu..., ... Anh, chị, em có quyền, nghĩa vụ thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau..., để giải thích cho ông bà H cũng như vợ chồng anh S thấy được quyền, nghĩa vụ của mình đối với chị P, con gái chị P. Cụ thể:
Thứ nhất, việc bà H nhận trông nom cháu ngoại (con của chị P) là hoàn toàn đúng với bổn phận, trách nhiệm và nghĩa vụ của người bà đối với cháu theo quy định của pháp luật cũng như tình cảm máu mủ, ruột thịt của mình; cháu nội, cháu ngoại đều như nhau, không phân biệt đối xử bên nặng, bên nhẹ. Tuy nhiên, bà sống chung với gia đình vợ chồng anh S nên việc nhận trông nom cháu ngoại cũng nên “đả thông” tư tưởng với vợ chồng anh S để cùng có chia sẻ, thông cảm và giúp đỡ chị P trong giai đoạn khó khăn và trao đổi với chị P phải chu cấp cho con thường xuyên, có lời nhờ đến vợ chồng anh S thông cảm, giúp đỡ, chia sẻ cho phải lẽ.
Thứ hai, tổ hòa giải phân tích, động viên vợ chồng anh S, trong đời sống “mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh”, việc chị P đưa cháu sang nhờ bà H trông nom giúp cũng là do bất đắc dĩ, hoàn cảnh éo le chồng mất sớm là một tổn thất rất lớn đối với chị P và cả gia đình, nay cuộc sống khó khăn, không có thu nhập nên chị phải đi làm ăn xa để kiếm tiền trang trải cuộc sống. Hiện nay, bà H còn trẻ, còn khỏe mà vợ chồng anh S thì làm ăn gần nhà, tuy gia đình còn khó khăn nhưng có phần thuận lợi hơn nên cố gắng chia sẻ, tạo điều kiện giúp đỡ chị P vượt qua khó khăn, trông nom cháu giúp chị P một thời gian nhất định. Là anh em ruột thịt “một giọt máu đào hơn ao nước lã” nên anh em phải có nghĩa vụ yêu thương, chăm sóc, đùm bọc, giúp đỡ nhau nhất là giai đoạn khó khăn, hoạn nạn... như hoàn cảnh của chị P. Việc vợ chồng anh S có lời trách móc, xúc phạm mẹ là không nên, không đúng. Anh chị cần bình tĩnh, tìm ra giải pháp giải quyết phù hợp trước những khó khăn của gia đình, thông cảm, chia sẻ và coi việc trông nom cháu cũng là bổn phận, trách nhiệm của mình, bởi theo quy định tại Điều 106 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, thì cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột có quyền, nghĩa vụ thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau; có quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng nhau trong trường hợp người cần được nuôi dưỡng...
Qua phân tích của tổ hòa giải, vợ chồng anh S hiểu việc mình đã làm là chưa đúng nên chủ động xin lỗi bà H. Trước thái độ thành khẩn của vợ chồng anh S, tổ hòa giải khuyên bà H bớt giận, thông cảm cho các con trong lúc “cả giận mất khôn” mà về sống với gia đình vợ chồng anh S như ngày trước.
c. Kết quả hòa giải
Nghe tổ hòa giải động viên, phân tích, bà H chấp nhận lời xin lỗi của vợ chồng S và mong vợ chồng anh cùng quan tâm chia sẻ khó khăn với chị P. Vợ chồng anh S hứa sẽ cùng bà chăm sóc con gái chị P chu đáo trong thời gian chị P đi làm ăn xa không có điều kiện chăm sóc con.
Các bên nhất trí ký biên bản hòa giải thành.

* Tình huống 3: Tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng
a. Nội dung vụ việc
Năm 1989, bà H kết hôn với ông T và được bố mẹ đẻ cho một căn nhà để làm của hồi môn. Thời đó còn khó khăn, không có điều kiện làm giấy tờ, bố mẹ bà H chỉ viết giấy tay tặng cho riêng bà H, có nhờ một người hàng xóm làm chứng ký trên giấy tặng cho. Tháng 9/2019, bà H làm thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở đứng tên cá nhân bà. Tuy nhiên, ông T không đồng ý, cho rằng đây là tài sản chung, ông “không có công cũng có cán” và muốn cả hai vợ chồng cùng đứng tên. Mâu thuẫn vợ chồng ông bà phát sinh. Bà H đề nghị nhờ tổ hòa giải giúp đỡ.
b. Quá trình hòa giải
Qua gặp gỡ tiếp xúc, xác định được mâu thuẫn, quan điểm của ông T, bà H, tổ hòa giải đã chia sẻ, giải thích rõ quy định của pháp luật về tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng. Tại Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định, tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các Điều 38, 39 và Điều 40 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.
Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Việc nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào tài sản chung được thực hiện theo thỏa thuận của vợ chồng (khoản 1 Điều 46 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014).
Cũng theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 100 của Luật Đất đai năm 2013, thì hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định mà có giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa, nhà tình thương gắn liền với đất thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.
Giữa ông T và bà H không có thỏa thuận về việc nhập tài sản riêng này vào tài sản chung của vợ chồng nên về lý, bà H hoàn toàn có quyền đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở đứng tên cá nhân bà.
Bên cạnh việc phân tích các quy định pháp luật nêu trên cho vợ chồng ông T, bà H hiểu, tổ hòa giải đồng thời dùng những lời nói thấu tình đạt lý để đánh thức tình cảm vợ chồng của ông bà, giúp ông bà nhận thức được điều quan trọng và cần thiết trong cuộc sống, đó chính là tình nghĩa vợ chồng keo sơn gắn bó, là sự sẻ chia những khó khăn vất vả, những lúc vui buồn...
c. Kết quả hòa giải
Trên cơ sở những phân tích về tình, về lý của tổ hòa giải, vợ chồng ông T, bà H đã vui vẻ, không tranh chấp về tài sản nữa.
Nguồn: Trang TTĐT PBGDPL Bộ Tư pháp
|
|
-
Đang online:
62
-
Hôm nay:
278
-
Trong tuần:
1944
-
Trong tháng:
14043
-
Tổng truy cập:
38494
|