Một số vụ việc hòa giải ở cơ sở điển hình - Phần 1 vụ việc trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình (tình huống 4-5-6)
30/06/2022 07:45 | 
 57
Một số vụ việc hòa giải ở cơ sở điển hình - Phần 1 vụ việc trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình (tình huống 4-5-6)

* Tình huống 4: Rượu làm hỏng hôn nhân
a. Nội dung vụ việc
Ông P thường xuyên tụ tập uống rượu không chịu làm việc. Hơn nữa, mỗi lần uống rượu say về nhà, ông thường la mắng vợ con. Sự việc cứ diễn ra thường xuyên nên vợ của ông là bà N bức xúc. Hai vợ chồng thường xuyên căng thẳng, cãi nhau, ảnh hưởng đến những người hàng xóm xung quanh. Mặc dù nghĩ đến các con đang trong tuổi vị thành niên, rất cần sự chăm sóc, giáo dục của cả cha mẹ nhưng bà N thấy quá mệt mỏi và xấu hổ với hàng xóm nên muốn ly hôn chồng.
b. Quá trình hòa giải
Sau khi nhận được phản ánh tình hình của người dân tại khu vực, các hòa giải viên đã đến tận nhà bà N nắm bắt sự việc và nhận định đây là mâu thuẫn trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình thuộc phạm vi hòa giải ở cơ sở, nguyên nhân ban đầu được xác định là do ông P thường xuyên uống rượu, không giúp đỡ vợ, con việc gia đình và nương rẫy dẫn đến nảy sinh mâu thuẫn. Tiếp đến, tổ hòa giải đã phân công hòa giải viên tổ chức hòa giải ngay tại nhà ông P, bà N với diễn biến như sau:
- Ông P cho rằng, do anh em, họ hàng quý mến nên thường xuyên được mời đến nhà uống rượu góp vui chứ không phải do mình nghiện rượu. Tuy nhiên, bà N không hiểu nên sau khi uống rượu say về thì hay cằn nhằn, làm ông buồn chán và càng đi uống rượu nhiều hơn.
- Bà N cho rằng, ông P thường xuyên đi uống rượu, về nhà say xỉn không giúp vợ làm việc, còn thường xuyên la mắng vợ con làm cho bà bực mình và xấu hổ với hàng xóm. Nếu ông P mà bỏ uống rượu thì bà sẽ không cãi nhau và không đòi bỏ chồng nữa.
Sau khi nghe hai bên trình bày, đại diện tổ hòa giải giải thích quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về quan hệ vợ chồng. Cụ thể, tại Điều 17 quy định: “Vợ, chồng bình đẳng với nhau, có quyền, nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong gia đình, trong việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ của công dân được quy định trong Hiến pháp, Luật này và các luật khác có liên quan”; và khoản 1 Điều 19 quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”.
Ngoài ra, tổ hòa giải còn phân tích tác hại của rượu ảnh hưởng đến sức khỏe con người như: Uống rượu bia gây mệt mỏi, giảm trí nhớ, gây kích thích thần kinh, giảm tuổi thọ và làm ảnh hưởng tới mọi người xung quanh, ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình…, đồng thời phân tích cho bà N biết nên thông cảm, chia sẻ nếu ông P thỉnh thoảng có uống rượu vì đó là chuyện vui của người khác khó có thể từ chối, mình phải nhẹ nhàng khuyên răn chồng không nên uống rượu.
c. Kết quả hòa giải
Sau khi nghe tổ hòa giải phân tích và hiểu được tâm tư nguyện vọng của bà N, ông P đã nhận ra hành vi của mình là không đúng, hứa sẽ bỏ rượu và cùng vợ làm việc gia đình cũng như việc nương rẫy. Bà N cũng đồng ý thỉnh thoảng để ông P đi uống rượu nhưng phải có chừng mực.
Vụ việc hòa giải thành công tốt đẹp, mâu thuẫn gia đình ông P và bà N đã được giải quyết, tổ hòa giải ghi biên bản hòa giải thành vụ việc.

* Tình huống 5: Muốn ly hôn khi đã cao tuổi
a. Nội dung vụ việc
Ông N (sinh năm 1938) có lương hưu, các công việc đối nội, đối ngoại đều do ông N lo, nên chi tiêu nhiều. Bà T (sinh năm 1944), vợ ông N, cho rằng ông có tiền đi “ăn chơi gái gú” nên tình cảm vợ chồng lạnh nhạt và không đưa tiền cho bà T. Sự việc ngày càng căng thẳng khi hàng đêm, bà T thường chửi ông N, treo quần áo phụ nữ khắp nhà, nồi niêu bát đĩa bị bà ném ra ngoài đã làm ảnh hưởng đến cuộc sống sinh hoạt của ông N. Nhiều đêm ông N không ngủ được vì bị bà T quấy rối. Không thể chịu đựng được trước hành động của bà T, ông N muốn ly hôn.
b. Quá trình hoà giải
Tiếp nhận yêu cầu hòa giải mâu thuẫn vợ chồng của bà T, tổ hoà giải nhận thấy việc muốn ly hôn đối với vợ chồng đã cao tuổi, đã có cháu gọi bằng cụ là điều không bình thường. Tổ trưởng tổ hoà giải đã trực tiếp đến gặp gỡ ông N, bà T, các con của ông bà và hàng xóm láng giềng để tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến việc vợ chồng ông N mâu thuẫn. Kết quả tìm hiểu xác minh cho thấy, ông N là công chức nhà nước nghỉ hưu nên có lương hưu hàng tháng được gần 5 triệu đồng. Tuy nhiên, các công việc đối nội, đối ngoại đều do ông N lo, chưa kể tiền thuốc thang bệnh tuổi già. Bà T cho rằng, ông N có tiền đi quan hệ bất chính nên tình cảm vợ chồng lạnh nhạt và không đưa tiền cho bà T. Sự việc ngày càng căng thẳng khi hàng đêm, bà T thường chửi ông N, treo quần áo phụ nữ khắp nhà, nồi niêu bát đĩa bị bà ném ra ngoài đã làm ảnh hưởng đến cuộc sống sinh hoạt của ông N. Nhiều đêm ông N không ngủ được vì bị bà T quấy rối. Không thể chịu đựng được trước hành động của bà T nhưng ông N không tìm ra được cách giải quyết vì bản thân ông N tuổi đã cao, có cháu gọi bằng cụ, đối với hàng xóm cũng là bậc cao niên nên không nhờ ai đứng ra hòa giải, giải quyết vụ việc, mà tự quyết định làm đơn xin ly hôn.
Tiếp đến, ngày 04/3/2019, tổ trưởng tổ hoà giải đã tổ chức họp tổ hòa giải mở rộng, gồm có các đồng chí: Trưởng ban Công tác Mặt trận, Trưởng thôn, Công an viên, tổ trưởng tổ dân phố, các thành viên tổ hòa giải, đại diện dòng tộc và hai con của ông bà. Cuộc họp đã thảo luận, phân tích nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn và bàn về phương pháp hòa giải.
Tổ trưởng tổ hòa giải phân công hòa giải viên H - Chi hội trưởng Chi hội phụ nữ, là người có mối quan hệ hàng xóm thân thiết, gần gũi với bà T, thường xuyên đến mua hàng và tâm sự, trò chuyện với bà để nắm bắt tư tưởng của bà T; đề nghị ông trưởng tộc đại diện dòng tộc lần lượt gặp gỡ bà T và ông N. Thông qua các cuộc gặp gỡ riêng từng người đã làm rõ nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ông N, bà T, đồng thời nắm bắt tâm tư của từng người. Bước đầu phân tích những nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do hiểu nhầm lẫn nhau. Trên cơ sở báo cáo kết quả tiếp xúc với ông N, bà T, tổ trưởng tổ hòa giải tiếp tục họp tổ để bàn phương pháp hòa giải.
Ngày 10/3/2019, Tổ hòa giải tiến hành hòa giải với thành phần gồm có các thành viên tổ hòa giải, ông N, bà T, hai con của ông bà, ông Trưởng tộc, Chi hội trưởng Chi hội phụ nữ, Chi hội trưởng Chi hội người cao tuổi. Tại buổi hòa giải, tổ trưởng tổ hòa giải đã phân tích nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ông N, bà T là do bà T đã hiểu lầm ông N trong việc chi tiêu. Ông N có tiền lương nhưng thường xuyên phải chi tiêu tiền thuốc chữa bệnh, chi tiêu đám cưới, đám giỗ trong thôn, trong dòng họ nên không có tiền dư ra để đưa cho bà T. Mặt khác, với tính tình của bà T hay nói nhiều và thường xuyên mắng ông N làm cho mâu thuẫn vợ chồng càng thêm sâu sắc. Tổ hòa giải đề nghị ông, bà hãy là tấm gương sáng để con cháu noi theo. Mặt khác, hai ông bà tuổi đã cao lại không có con cháu ở cùng nên ông bà cần nương tựa vào nhau phòng khi đêm hôm trái gió trở trời.
c. Kết quả hòa giải
Tại buổi hòa giải, bà T đã hiểu và nhận ra cái sai của mình và có ý kiến xin lỗi tổ hòa giải, dòng họ vì đã gây phiền đến mọi người và ảnh hưởng đến phong trào thi đua của thôn xóm, uy tín của dòng họ. Bà T hứa với ông N, với mọi người sẽ sửa chữa sai sót của mình không để trường hợp tương tự diễn ra. Trước thái độ cầu thị của bà T, sự động viên của các thành viên tham gia buổi hòa giải, ông N đồng ý tha thứ cho bà T, không nộp đơn xin ly hôn nữa.

* Tình huống 6: Mâu thuẫn vợ chồng do ngoại tình
a. Nội dung vụ, việc
Vợ chồng anh A và chị Y, thường trú tại xã Văn X, huyện Tu Mơ Rông, tỉnh Kon Tum. Đầu tháng 3/2019, chị Y thấy chồng có các biểu hiện đi sớm về muộn, thường xuyên vắng nhà. Sau khi tìm hiểu và theo dõi, ngày 20/3/2019 chị phát hiện anh A ngoại tình với người phụ nữ khác, tức giận, chị đuổi anh A ra khỏi nhà.
b. Quá trình hòa giải
Ngày 29/3/2019, nhận thấy tình hình trở nên căng thẳng, bà G - Trưởng thôn, đồng thời là Tổ trưởng tổ hòa giải thôn đã cùng 02 hòa giải viên đến nhà chị Y để nắm bắt tình hình và vận động chị Y cho chồng về nhà để hòa giải. Vào hồi 8h00 ngày 30/3/2019, tổ hòa giải tổ chức hòa giải tại nhà riêng của hai vợ chồng anh A và chị Y. Tại đây, bà G để các bên trình bày quan điểm của mình. Chị Y đã cung cấp các chứng cứ chứng minh chồng ngoại tình. Tuy nhiên, anh A vẫn cho rằng mình không ngoại tình. Hai bên không đạt được thỏa thuận chung nên buổi hòa giải lần 1 không thành.
Ngày 04/4/2019, bà G trình bày sự việc và tham khảo ý kiến của anh B, công chức Tư pháp - Hộ tịch xã về hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng, chế tài xử lý và hậu quả đối với hành vi ngoại tình, như:
- Luật Hôn nhân và gia đình 2014 có quy định cấm hành vi:“Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ”.
- Khoản 1 Điều 48 Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 67/2015/NĐ-CP ngày 14/8/2015) quy định:
“1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
a) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;
b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;
c) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;
....”
- Điều 182 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng:
“1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:
a) Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;
b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát;
b) Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó”.
Đến ngày 05/4/2019, bà G tiếp tục cùng các thành viên tổ hòa giải thôn tổ chức hòa giải lần 02 cho hai vợ chồng. Lần này, bà G phân tích cho anh A hiểu rõ hành vi của anh đã vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng và có thể bị phạt vi phạm hành chính hoặc nặng hơn là truy cứu trách nhiệm hình sự. Đồng thời, bà phân tích cho hai vợ chồng các vấn đề pháp lý phát sinh sau khi ly hôn (việc nuôi dạy con, chia tài sản...).
c. Kết quả hòa giải
Sau khi nghe phân tích, anh A đã nhận lỗi và cam kết không tái phạm. Chị Y đồng ý cho chồng về nhà chung sống trở lại. Hòa giải viên tiến hành ghi biên bản hòa giải thành. Kể từ đó đến nay, bà G vẫn thường xuyên qua lại thăm hỏi với chị Y về cuộc sống gia đình chị và được biết anh A đã thay đổi, đã dành nhiều thời gian quan tâm gia đình, yêu thương vợ con.
Nguồn : Trang TTĐT PBGDPL Bộ Tư pháp
|
|
-
Đang online:
61
-
Hôm nay:
277
-
Trong tuần:
1943
-
Trong tháng:
14042
-
Tổng truy cập:
38493
|