Một số vụ việc hòa giải ở cơ sở điển hình - Phần 1 vụ việc trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình (tình huống 7-8-9)
01/07/2022 07:46 | 
 36
Một số vụ việc hòa giải ở cơ sở điển hình - Phần 1 vụ việc trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình (tình huống 7-8-9)

* Tình huống 7: Vượt qua sóng gió cuộc đời
a. Nội dung vụ việc
Vợ chồng chị Ng và anh D kết hôn vào đầu năm 2013. Từ ngày hai người kết hôn, nhờ tu chí làm ăn lại khéo léo vun vén nên vợ, chồng anh chị đã tích góp mua được mảnh đất 200m2 ở mặt đường với giá 450 triệu đồng. Cuối năm 2018, trên mảnh đất ấy, anh chị xây ngôi nhà khang trang trị giá trên 1 tỷ đồng. Ngoài ra, họ còn dành dụm được một số vốn kha khá để kinh doanh. Gia đình anh chị đầm ấm, hạnh phúc, lúc nào cũng rộn rã tiếng cười là niềm mong ước của biết bao người. Vừa qua, chị Ng lại có đơn đề nghị ly hôn khiến ai nghe cũng thấy ngỡ ngàng. Khi nhận được thông tin vụ việc, tổ trưởng tổ hòa giải đã nhanh chóng vào cuộc để tìm hiểu câu chuyện.
b. Quá trình hòa giải
Qua tìm hiểu, xác minh thông tin, tổ hòa giải xác định được nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn giữa hai vợ chồng chị Ng. Cụ thể, mấy tháng qua, anh D đã đi đánh bạc nhiều lần, khi thì thua 3 triệu, lúc lại thua 4 triệu. Chị Ng đưa tiền cho chồng để mua hàng về kinh doanh, anh đều bớt lại đi đánh bạc. Một, hai lần chị còn cho qua, nhưng sự việc cứ tiếp diễn khiến chị không thể chịu được. Đỉnh điểm gần đây, biết chồng đi nhận tiền của đối tác, chị Ng đã linh tính là anh D sẽ bị bạn bè rủ rê, lôi kéo vào đánh bạc nên chị nhiều lần gọi điện đều không được vì anh chặn số. Chị nhờ cả bố mẹ hai bên liên lạc nhưng anh vẫn không chịu về nhà. Một tuần sau, anh D trở về nhà trong tình trạng bơ phờ mệt mỏi. Bố mẹ anh D rất tức giận định đuổi anh ra khỏi nhà. Không những thế, anh thú nhận với gia đình đã thua bạc toàn bộ số tiền nhận của khách. Với tâm lý “được mải ăn, thua mải gỡ”, nên ngoài số tiền khách trả, anh còn đi vay nóng với lãi suất cao nhằm gỡ lại, nhưng càng lao vào như con thiêu thân thì anh càng mất thêm tiền. Sau đó, anh D do chán nản đã sinh ra tật rượu chè, bỏ bê công việc, nhà cửa, gia đình. Thêm vào đó là chủ nợ ráo riết đến đòi tiền nợ cả gốc và lãi. Chị Ng tiếc của cũng nói với chồng những câu nặng lời. Không khí gia đình căng như sợi dây đàn. Nhiều đêm mất ngủ lại thêm suy nghĩ, lo lắng, chị Ng bị trầm cảm, thậm chí, chị từng có ý định quyên sinh. Xét thấy không thể tiếp tục cuộc hôn nhân với anh D được nữa, chị đã gửi đơn ly hôn và xin được nuôi hai con sau khi ly hôn.
Tổ hòa giải đã phân công bà Đ - hòa giải viên đến gặp chị Ng, ông K - tổ trưởng tổ hòa giải trực tiếp gặp anh D để nói chuyện.
Sau nhiều lần kiên trì gặp gỡ, hòa giải viên K đã phân tích để anh D biết được các quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 về quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng. Các cụ xưa đã có câu “Cờ bạc là bác thằng bần, nhà tan cửa nát, vợ con chia lìa”. Ngoài ra, pháp luật cũng có quy định rất cụ thể về xử phạt đối với người có hành vi này. Tuy thuộc vào tính chất, mức độ của hành vi vi phạm mà người có hành vi đánh bạc sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 26 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Lựa thời điểm thích hợp, hòa giải viên K, hòa giải viên Đ và các thành viên trong tổ hòa giải của thôn đã có mặt tại nhà vợ chồng chị Ng để tổ chức buổi hòa giải. Trước mặt mọi người, anh D thẳng thắn thừa nhận thời gian vừa qua đã gây nhiều sóng gió đối với vợ con và gia đình. Trong thâm tâm, anh vẫn yêu thương vợ con và muốn cùng chị Ng tu chí làm ăn, trước để trả nợ, sau là làm giàu chính đáng và cùng nhau nuôi dạy các con khôn lớn.
Chị Ng cũng nói về việc chị gửi đơn ly hôn trong lúc quá nóng giận. Chị tự nhận thấy, trong lúc chồng mắc sai lầm, lẽ ra chị cần gần gũi, động viên, chia sẻ nhưng chị xử sự nóng nảy là một trong những nguyên nhân dẫn đến sai lầm tiếp theo của chồng. Không ai muốn gia đình tan vỡ, con cái chịu cảnh bơ vơ nên chị cũng muốn cho chồng cơ hội để sửa sai và hàn gắn gia đình.
c. Kết quả hòa giải
Buổi hòa giải đã thành công, những mâu thuẫn, bất hòa giữa hai vợ chồng chị Ng và anh D đã được hóa giải.
Sau buổi hòa giải thành, hòa giải viên K vẫn thường xuyên quan tâm thăm hỏi về cuộc sống và công việc của gia đình anh chị. Được sự giúp đỡ của gia đình hai bên, anh chị đã vay được một số vốn để tiếp tục làm ăn, buôn bán, gây dựng lại kinh tế gia đình như trước kia.

* Tình huống 8: Mâu thuẫn do người chồng tự nhiên thay đổi tính nết
a. Nội dung vụ việc
Năm 1997, chị Hà Thị T, sinh năm 1977 kết hôn với anh Lò Văn S sinh năm 1976 cùng trú tại bản Nà Tâu 2, xã Huy B. Những năm đầu sau khi kết hôn, hai vợ chồng sống với nhau đầm ấm, hạnh phúc, họ cũng sinh được 2 con khỏe mạnh, kháu khỉnh. Tuy nhiên, vài năm gần đây, anh S đã có sự thay đổi về tính cách và hành vi. Anh S thường xuyên rượu chè, đánh đập vợ con làm cho tình cảm vợ chồng bị rạn nứt, không khí gia đình trở nên ngột ngạt. Đã rất nhiều lần xích mích, mâu thuẫn giữa hai vợ chồng được hàng xóm, anh em, bạn bè khuyên nhủ nhưng tình hình ngày càng trầm trọng hơn. Mới đây, anh S sau khi uống rượu say về đã có hành vi bạo lực với vợ. Rất may là chị T do đã đoán được ý đồ và hành động của chồng nên đã chủ động bỏ đi chỗ khác. Không đánh được vợ, anh S đã lấy con dao sắc chặt đứt đôi 3 con lợn ở nhà mang ra ngoài mương đem vứt… Không chịu được nữa cảnh suốt ngày bị chồng bạo lực, chị T đã đề nghị tổ hòa giải thôn giúp đỡ giải quyết.
b. Quá trình hòa giải
Sau khi nhận được đơn yêu cầu hòa giải của chị T, tổ hòa giải đã trực tiếp gặp gỡ vợ chồng anh chị để tìm hiểu về nguyên nhân mâu thuẫn, xích mích của hai vợ chồng, đồng thời cũng tiếp nhận ý kiến của cả hai bên (các ý kiến của hai vợ chồng đều được lập thành biên bản).
Tiếp đến, tổ trưởng tổ hòa giải đã thay mặt tổ hòa giải làm việc và xin ý kiến của các tổ chức, đoàn thể trong bản để tìm hiểu và củng cố thêm về nguyên nhân mâu thuẫn, xích mích của hai vợ chồng anh S, chị T; đồng thời cũng xin thêm ý kiến của các tổ chức, đoàn thể để sử dụng để khuyên can, giúp đỡ hai vợ chồng anh chị.
Trên cơ sở ý kiến của các bên về nội dung mâu thuẫn, xích mích của hai vợ chồng anh S, chị T- tổ trưởng tổ hòa giải đã đến gặp đồng chí công chức Tư pháp - hộ tịch xã để xin ý kiến tư vấn về nội dung mâu thuẫn xích mích, các quy định của pháp luật liên quan đến quan hệ hôn nhân gia đình, đến quyền và nghĩa vụ của vợ và chồng, các quy định về xử lý hành chính, hình sự đối với các hành vi bạo lực gia đình, đồng thời tư vấn về việc chọn địa điểm hòa giải, thành phần mời đến dự buổi hòa giải…
Buổi hòa giải được tiến hành tại nhà đồng chí Tổ trưởng tổ hòa giải, thành phần được mời gồm các thành viên tổ hòa giải bản Nà Tâu 2, đại diện các tổ chức, đoàn thể ở bản, đại diện hộ gia đình hai bên nội ngoại, vợ chồng anh S và chị T.
Tại buổi hòa giải, tổ hòa giải đã đề nghị anh S, chị T trình bày ý kiến và nguyên nhân mâu thuẫn xích mích của hai vợ chồng, tiếp đến là ý kiến trình bày của đại diện hai bên nội, ngoại về hành vi của vợ chồng anh S và chị T. Sau khi nghe ý kiến của anh S, chị T, đại diện hộ gia đình hai bên nội, ngoại và các tổ chức, đoàn thể ở bản, thành viên tổ hòa giải đã giải thích, phân tích cái đúng, cái sai, về tình nghĩa vợ chồng cho vợ chồng anh S, chị T nghe, dẫn chiếu các quy định của pháp luật quy định về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, các quy định xử lý khi có hành vi bạo lực gia đình.
c. Kết quả hòa giải
Nghe các thành viên tham gia buổi hòa giải phân tích có tình, có lý, vợ chồng anh S và chị T đã nhận ra lỗi của mình, hứa sẽ sửa chữa và cùng nhau viết cam kết xây dựng gia đình văn hóa.
Tổ hòa giải lập biên bản hòa giải thành, được các bên tham gia ký tên xác nhận. Tổ hòa giải cũng phân công một hòa giải viên tiếp tục quan tâm, thường xuyên hỏi thăm, động viên vợ chồng anh S chị T xây dựng gia đình hạnh phúc.

* Tình huống 9: “Phận làm con”
a. Nội dung vụ việc
Bà Nguyễn Thị H, năm nay 82 tuổi, có 02 người con là anh S và chị P đều đã trưởng thành và lập gia đình. Từ ngày chị P đi lấy chồng và ra ở riêng, bà H sống chung với vợ chồng anh S tại căn nhà của bà. Trong những ngày sống cùng vợ chồng anh S, vợ chồng anh thường xuyên đối xử bất kính với bà (ngược đãi, xúc phạm, đối xử tệ bạc với mẹ mình,…). Thấy vợ chồng anh trai đối xử bất hiếu với mẹ nên chị P đã nói chuyện, bàn bạc với vợ chồng anh S là để chị đón mẹ về chăm sóc, phụng dưỡng. Vợ chồng anh S không chấp nhận và cho rằng nếu bà H về ở với chị P thì sau này bà sẽ cho căn nhà mà vợ chồng anh đang ở cho chị P. Chính vì vậy, anh S đã có lời lẽ thiếu tế nhị với chị P và cương quyết không cho chị đón mẹ về sống chung, dẫn đến mâu thuẫn giữa 2 anh em ngày càng gay gắt.
b. Quá trình hòa giải
Trên cơ sở kết quả gặp gỡ, tiếp xúc với các bên mâu thuẫn, tranh chấp để tìm hiểu vụ việc; quan điểm các bên, xác định mâu thuẫn, tranh chấp thuộc lĩnh vực pháp luật điều chỉnh; lựa chọn thời gian, địa điểm, thành phần tham gia hòa giải; cách thức hòa giải…, tổ hòa giải ấp 1, xã Hiệp H tiến hành hòa giải vụ việc nêu trên như sau:
Xác định mâu thuẫn, nguyên nhân: Do cách đối xử không tốt của vợ chồng anh S đối với mẹ là bà H nên chị P muốn đón mẹ về ở chung, để tiện chăm sóc, phụng dưỡng mẹ, nhưng vợ chồng anh S không chấp nhận vì lòng tham, sợ mẹ sẽ cho chị P căn nhà mà vợ chồng anh đang ở.
Tổ hòa giải phân tích cho vợ chồng anh S hiểu: Bổn phận làm con phải luôn luôn kính trọng và hiếu thảo, có nghĩa vụ phụng dưỡng, chăm sóc cho cha mẹ, nhất là khi cha mẹ ở tuổi già hoặc khi ốm đau. Tình yêu cha mẹ dành cho con là vô hạn và kể sao cho hết công ơn trời biển của cha mẹ lo cho con từ lúc con lọt lòng đến khi khôn lớn. Ông cha ta đã có câu:
“Công cha như núi Thái Sơn.
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
Một lòng thờ mẹ, kính cha
Cho tròn chữ hiếu, mới là đạo con”
Căn cứ pháp lý giải quyết:
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: Tại khoản 2, Điều 70 quy định: Con có bổn phận yêu quý, kính trọng, biết ơn, hiếu thảo, phụng dưỡng cha mẹ, giữ gìn danh dự, truyền thống tốt đẹp của gia đình; khoản 2, Điều 71 quy định: Con có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, đặc biệt khi cha mẹ mất năng lực hành vi dân sự, ốm đau, già yếu, khuyết tật; trường hợp gia đình có nhiều con thì các con phải cùng chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ.
Điều 3 Luật Người cao tuổi quy định: Người cao tuổi được bảo đảm các nhu cầu cơ bản về ăn, mặc, ở, đi lại, chăm sóc sức khỏe; Quyết định sống chung với con, cháu hoặc sống riêng theo ý muốn; Điều 10 quy định: Người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng người cao tuổi là con, cháu của người cao tuổi và những người khác có nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình.
Điều 610 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: Mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền để lại tài sản của mình cho người khác và quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật...
Căn cứ vào đạo đức xã hội, phong tục, tập quán của địa phương: Đừng vì vật chất, tiền tài, ham muốn nhất thời… mà đánh mất đạo hiếu làm con; đánh mất đi tình anh em ruột thịt;… để rồi hối hận cả cuộc đời.
Anh S, chị P đều là con của bà H nên cả 02 anh em đều có nghĩa vụ chăm sóc, phụng dưỡng mẹ mình là bà H. Do vợ chồng anh S chăm sóc không chu đáo cho mẹ, thường xuyên đối xử không tốt với mẹ, ngược đãi, xúc phạm, đối xử tệ bạc với mẹ, nên vợ chồng anh S phải đồng ý cho mẹ về ở chung với chị P để chị chăm sóc, phụng dưỡng. Còn tài sản của bà H, bà muốn cho ai là quyền của bà, anh S không có quyền cấm chị P đón mẹ về ở chung, cũng như không có quyền gì để cản trở bà H về ở chung với chị P. Nếu vợ chồng anh S không đồng ý thì sẽ vi phạm quy định của Luật Người cao tuổi; Luật Hôn nhân và gia đình, Bộ luật Dân sự và vi phạm về đạo đức xã hội, phong tục, tập quán truyền thống văn hóa của dân tộc.
c. Kết quả hòa giải
Sau khi nghe hòa giải viên phân tích, vợ chồng anh S đã hiểu những hành vi không đúng của mình đối với mẹ về cả khía cạnh luật pháp cũng như đạo lý của con cái đối với cha mẹ. Vợ chồng anh S mong bà H tha thứ và hứa sẽ chăm sóc, phụng dưỡng bà nếu bà tiếp tục ở với anh chị. Trường hợp bà muốn đến nhà chị P sống thì vợ chồng anh S sẽ đồng ý để chị P đón bà về chăm sóc. Bà H đã đồng ý tha thứ cho vợ chồng anh S, song bà muốn về ở với chị P một thời gian để thay đổi không khí. Thời điểm thích hợp về ở với vợ chồng anh S, bà sẽ thông báo sau.
Nguồn: Trang TTĐT PBGDPL Bộ Tư pháp
|
|
-
Đang online:
60
-
Hôm nay:
276
-
Trong tuần:
1942
-
Trong tháng:
14041
-
Tổng truy cập:
38492
|