Gia đình Việt Nam ngày nay không còn bó hẹp trong khuôn mẫu truyền thống một vợ, một chồng, một lứa con chung. Ngày càng nhiều người sau ly hôn hoặc góa bụa tìm đến hạnh phúc mới, mang theo con riêng về sống chung dưới một mái nhà với cha dượng, mẹ kế. Trong hành trình ấy, không ít câu hỏi được đặt ra: cha dượng, mẹ kế có bắt buộc phải nuôi dưỡng con riêng của vợ, chồng mình hay không? Con riêng có được thừa kế tài sản của cha dượng, mẹ kế sau này? Bài viết dưới đây sẽ giúp bạn đọc hiểu rõ quyền và nghĩa vụ giữa các bên theo quy định pháp luật hiện hành.
Cha dượng, mẹ kế và con riêng: Quyền, nghĩa vụ phát sinh khi nào?
Khác với quan hệ cha mẹ – con đẻ, quan hệ giữa cha dượng, mẹ kế với con riêng của vợ hoặc chồng không đương nhiên phát sinh khi cha mẹ tái hôn, mà chỉ phát sinh quyền và nghĩa vụ pháp lý khi hai bên cùng sống chung với nhau. Đây là điểm mà người dân cần đặc biệt lưu ý để tránh hiểu sai về pháp luật.
Điều 79 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định cụ thể: cha dượng, mẹ kế có quyền và nghĩa vụ trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con riêng của bên kia cùng sống chung với mình theo quy định tại các Điều 69, 71 và 72 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; ngược lại, con riêng có quyền và nghĩa vụ chăm sóc, phụng dưỡng cha dượng, mẹ kế cùng sống chung với mình theo quy định tại Điều 70 và Điều 71 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.



Một số nội dung pháp lý cần lưu ý:
- Về nghĩa vụ cấp dưỡng: cha dượng, mẹ kế không đương nhiên có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con riêng như cha, mẹ đẻ. Việc hỗ trợ tài chính, nếu có, mang tính tự nguyện hoặc theo thỏa thuận giữa các bên, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Về thời điểm chấm dứt: khi cha, mẹ ly hôn hoặc không còn sống chung, quan hệ cùng sống chung giữa cha dượng, mẹ kế với con riêng chấm dứt, kéo theo nghĩa vụ trông nom, nuôi dưỡng theo Điều 79 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cũng chấm dứt, trừ khi các bên có thỏa thuận khác.
- Về thừa kế: theo Điều 654 Bộ luật Dân sự 2015, con riêng và bố dượng, mẹ kế chỉ được thừa kế di sản của nhau (kể cả thừa kế thế vị) nếu có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con trên thực tế. Đây là quan hệ thừa kế có điều kiện, khác với thừa kế đương nhiên giữa cha mẹ đẻ và con đẻ. Ngoài ra, con riêng vẫn có thể được hưởng di sản nếu cha dượng, mẹ kế lập di chúc để lại tài sản cho mình.
- Về cấm kết hôn: pháp luật nghiêm cấm việc kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa người đã từng là cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng (điểm d khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình 2014). Hành vi vi phạm có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.
Thu Yến – Phòng PBGDPL