Ngày 13/5/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 151/2026/NĐ-CP quy định về tổ chức và hoạt động của văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên; thay thế Nghị định số 08/2020/NĐ-CP ngày 08/01/2020 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại.
Kể từ ngày 01/7/2026 (thời điểm Luật Thi hành án dân sự số 106/2026/QH16 có hiệu lực thi hành) thì Thừa phát lại được đổi tên thành Thừa hành viên, Văn phòng Thừa phát lại được đổi thành Văn phòng Thi hành án dân sự. Nghị định số 151/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều (điểm a khoản 4 Điều 10, khoản 5 Điều 26, khoản 4 Điều 27…) và các biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Thi hành án dân sự số 106/2026/QH16 về tổ chức và hoạt động của văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên. Nghị định có một số điểm mới đáng chú ý như:
Thứ nhất, bổ sung một số trường hợp không được bổ nhiệm Thừa hành viên (Điều 9) như Hội thẩm nhân dân bị bãi nhiệm, công chứng viên, luật sư, đấu giá viên, quản tài viên, giám định viên tư pháp, thẩm định viên về giá bị miễn nhiệm, bị thu hồi chứng chỉ hành nghề, thẻ hành nghề mà chưa hết thời hạn 03 năm kể từ ngày bị bãi nhiệm, miễn nhiệm, thu hồi chứng chỉ hành nghề, thẻ hành nghề hoặc đang bị tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề, thẻ hành nghề. Việc bổ sung quy định trên nhằm bảo đảm chuẩn hóa tiêu chuẩn hành nghề của Thừa hành viên theo hướng đặt yêu cầu cao về năng lực chuyên môn, kinh nghiệm thực tiễn và hiểu biết pháp luật.
Thứ hai, sửa đổi, bổ sung về các trường hợp bị tạm đình chỉ hành nghề: Thừa hành viên bị tạm đình chỉ hành nghề (Điều 10) khi bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, đặc khu hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc hoặc đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc.

Thứ ba, bổ sung các trường hợp miễn nhiệm Thừa hành viên (Điều 11). Theo đó, Thừa hành viên có thể được miễn nhiệm theo nguyện vọng cá nhân, đương nhiên miễn nhiệm khi quá 70 tuổi hoặc các trường hợp khác như đồng thời hành nghề tại 02 văn phòng thi hành án dân sự trở lên hoặc hành nghề Thừa hành viên trong thời gian bị tạm đình chỉ hành nghề Thừa hành viên.
Đối với trường hợp miễn nhiệm theo nguyện vọng cá nhân, Thừa hành viên gửi trực tiếp văn bản đề nghị miễn nhiệm theo mẫu do Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định hoặc qua dịch vụ bưu chính đến Trung tâm phục vụ hành chính công tỉnh, thành phố nơi đăng ký hành nghề hoặc nơi bổ nhiệm Thừa hành viên trong trường hợp chưa đăng ký hành nghề hoặc trực tuyến trên Cổng Dịch vụ công quốc gia.
Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Sở Tư pháp có văn bản kèm theo hồ sơ đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh miễn nhiệm Thừa hành viên; trường hợp từ chối phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đề nghị của Sở Tư pháp, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định miễn nhiệm Thừa hành viên; trường hợp từ chối phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do.

Thứ tư, bổ sung về bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của Thừa hành viên (Điều 18): Văn phòng thi hành án dân sự có nghĩa vụ mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho Thừa hành viên hành nghề tại văn phòng mình kể từ ngày Thừa hành viên được cấp Thẻ Thừa hành viên. Việc mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho Thừa hành viên phải được duy trì trong suốt thời gian hoạt động của văn phòng thi hành án dân sự. Đây là một điểm mới, bảo đảm ngăn ngừa các rủi ro về tài chính, sức khỏe, tính mạng trong quá trình làm việc của Thừa hành viên.
Thứ năm, bổ sung và cụ thể hóa một số thẩm quyền, phạm vi, thủ tục thực hiện công việc của Thừa hành viên như: Thừa hành viên được lập vi bằng trên phạm vi toàn quốc; Thừa hành viên tống đạt các giấy tờ, hồ sơ, tài liệu của Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự trên địa bàn tỉnh, thành phố nơi văn phòng thi hành án dân sự đặt trụ sở, mở chi nhánh khi có yêu cầu. Trường hợp tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu của Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố khác thì địa chỉ của người được tống đạt phải thuộc địa bàn tỉnh, thành phố nơi văn phòng thi hành án dân sự đặt trụ sở, mở chi nhánh…
Việc ban hành Nghị định số 151/2026/NĐ-CP nhằm hướng đến tổ chức thực hiện hoạt động của văn phòng thi hành án dân sự và Thừa hành viên theo hướng nghề nghiệp hóa, xã hội hóa thi hành án dân sự. Đây cũng là nền tảng để nâng cao chất lượng dịch vụ tư pháp, tăng cường niềm tin của xã hội vào hoạt động thi hành án dân sự trong giai đoạn triển khai Luật Thi hành án dân sự năm 2025. Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026./.
Nguyễn Trinh – Phòng Bổ trợ tư pháp