1. Câu chuyện pháp luật:
“NGUỒN GỐC CỦA CON, QUYẾT ĐỊNH CỦA AI”
Hôm đó, sau khi đi nhậu nhà hàng xóm về, ông Lương bước vào nhà với vẻ mặt cau có, người nồng nặc mùi rượu.
Ông Lương gằn giọng: H’Lan! Bà ra đây ngay.
Bà H’Lan đang dọn dẹp, nấu ăn trong bếp nói với ra: Gì vậy ông? Say rồi thì lên nghỉ đi.
Ông Lương: Tôi không say! Tôi tỉnh táo hơn bao giờ hết. Bà biết bạn bè tôi hôm nay nói gì không? Họ bảo tôi “mất gốc”! Họ nói thằng Y’Quang mang dân tộc Ê-đê của bà, sau này tôi chết đi thì ai là người Kinh thờ cúng.
Bà H’Lan nhíu mày: Trời đất, sao ông lại nghe mấy lời trêu chọc đó? Chúng ta đã thống nhất từ ngày khai sinh rồi mà. Dòng máu nó là sự hoà hợp của cả hai.
Ông Lương: Không được! Không thể thế được! Bà phải làm gì đó đi. Ngày mai, bà phải lên xã, làm thủ tục xác định lại dân tộc cho thằng Y’Quang. Phải đổi sang họ của dân tộc Kinh theo tôi!
Đúng lúc đó, Y’Quang đi học về, nghe thấy cuộc cãi vã của bố mẹ. Cậu nói với vẻ kiên quyết: Bố, con không đồng ý.
Ông Lương trừng mắt: Mày im đi! Chuyện của người lớn, mày còn chưa đủ tuổi xen vào!
Y’Quang: Con không xen vào, đây là chuyện của con mà. Con là dân tộc Ê-đê, con đã quen rồi. Hơn nữa, con mang dân tộc mẹ thì con được ưu tiên trong thi cử, được hỗ trợ học bổng của Nhà nước. Con thấy điều này rất tốt.
Bà H’Lan đứng về phía con: Đúng vậy. Sao ông lại muốn làm khó con? Chúng ta làm thế cũng vì tương lai của nó.
Ông Lương đập bàn quát lớn: Tương lai gì mà không có gốc gác? Tôi là cha, tôi có quyền quyết định tương lai của nó! Tôi nói đổi là phải đổi!
Y’Quang: Bố, con 17 tuổi rồi, con có suy nghĩ của mình. Con không muốn thay đổi.
Ông Lương tức giận, tuyên bố sẽ tự mình lên xã yêu cầu thay đổi.
Sáng hôm sau, ông Lương đến gặp cán bộ Tư pháp xã. Ông đưa giấy tờ và trình bày yêu cầu muốn đổi dân tộc cho con.
Ông Lương: Tôi là cha cháu Y’Quang. Giờ tôi muốn xác định lại dân tộc của cháu từ dân tộc Ê-đê sang dân tộc Kinh, theo dân tộc của tôi. Vợ và cháu nó không đồng ý, nhưng tôi là cha, tôi có quyền quyết định.
Sau khi nghe ông Lương trình bày, cán bộ Tư pháp xã bình tĩnh giải thích: Chú Lương à, chúng cháu hiểu sự băn khoăn của chú. Tuy nhiên, việc xác định lại dân tộc phải tuân thủ theo quy định của pháp luật.
Ông Lương: Luật nào mà không cho cha quyết định dân tộc của con?
Cán bộ Tư pháp: Thưa ông, theo khoản 4 Điều 29 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định rất rõ: “Việc xác định dân tộc cho người từ đủ mười lăm tuổi đến dưới mười tám tuổi phải được sự đồng ý của người đó”.
Cháu Quang đã 17 tuổi rồi, tức là cháu đã đủ 15 tuổi. Vì cháu không đồng ý với yêu cầu của ông, nên dù chú là cha đẻ, chúng cháu cũng không thể thực hiện việc xác định lại dân tộc cho cháu. Quyền nhân thân này tại độ tuổi này đã được pháp luật bảo vệ.
Ông Lương ngỡ ngàng, hiểu rằng quyền lực của người cha không phải là tuyệt đối, mà bị giới hạn bởi quyền tự quyết của con cái theo luật định. Ông thất vọng rời khỏi trụ sở UBND xã, nhưng ông không còn tức giận. Ông nhận ra rằng, dù mang dân tộc Ê-đê hay dân tộc Kinh thì Quang vẫn là người thừa kế trọn vẹn văn hoá của cả cha và mẹ.
Trở về nhà, ông Lương nhìn Quang đang cặm cụi học bài. Ông không còn cảm thấy “mất gốc” nữa. Chính sự kiên định của con trai và quy định của pháp luật đã giúp ông vượt qua những định kiến cũ. Ánh mắt ông Lương giờ đây chỉ còn là niềm tin vào tương lai của con trai. Một tương lai mà dòng máu đa sắc tộc được pháp luật bảo hộ và tôn trọng.
BÀI HỌC RÚT RA:
Câu chuyện “Nguồn gốc của con, quyết định của ai” là một thông điệp nhân văn sâu sắc, nhắc nhở chúng ta rằng quyền lực của cha mẹ không phải là tuyệt đối mà cần gắn liền với sự tôn trọng quyền nhân thân của con cái; đặc biệt là quyền tự quyết về dân tộc của người từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi đã được pháp luật bảo vệ. Đồng thời, đây cũng là bài học đắt giá về cách ứng xử để giữ gìn hạnh phúc: Thay vì dùng quyền uy áp đặt hay để những định kiến, lời đàm tiếu hẹp hòi làm lung lay nền tảng gia đình, cha mẹ cần bình tĩnh lắng nghe và thấu hiểu sự trưởng thành của con. Rốt cuộc, đạo lý uống nước nhớ nguồn hay giá trị của một con người không nằm ở dòng chữ ghi dân tộc trên giấy tờ, mà nằm ở nhân cách, sự giáo dục và tình yêu thương - nơi sự giao thoa văn hóa được trân trọng, dung hòa và bảo vệ trọn vẹn. Hiểu đúng pháp luật không chỉ giúp chúng ta bảo vệ quyền lợi chính đáng, mà còn là cơ sở để gỡ bỏ định kiến, thấu hiểu nhau hơn và gìn giữ tình yêu thương trong gia đình.
Đinh Trúc (Phòng Phổ Biến, Giáo dục pháp luật)
2. Câu chuyện pháp luật: “CHƠI HỤI GIÚP NHAU” HÓA RA THÀNH VI PHẠM PHÁP LUẬT
Trên địa bàn xã B, thuộc địa bàn tỉnh Lâm Đồng, bà Trần Thị M, 47 tuổi, được nhiều người biết đến là người tháo vát, buôn bán, làm kinh tế giỏi. Được sự tin tưởng của mọi người tại địa phương, từ vài năm nay, bà M thường đứng ra tổ chức “chơi hụi” (hay còn gọi là họ, biêu, phường) để giúp chị em trong chợ có vốn xoay vòng. Ban đầu, việc chơi hụi diễn ra nhỏ lẻ, mỗi dây chỉ 10-12 người, mỗi phần hụi 10-20 triệu đồng, chủ yếu nhằm hỗ trợ lẫn nhau. Tuy nhiên, từ năm 2024 đến 2025, khi việc buôn bán thuận lợi, bà M bắt đầu mở thêm nhiều dây hụi cùng lúc, trong đó có dây có giá trị mỗi phần hụi 150 triệu đồng, thu hút hàng chục người tham gia. Dù quy mô ngày càng lớn, nhưng bà M không thông báo bằng văn bản cho Ủy ban nhân dân cấp xã về việc tổ chức nhiều dây hụi có giá trị cao, cũng không lập sổ hụi hay biên bản thỏa thuận rõ ràng giữa các thành viên. Mọi giao dịch chỉ được ghi chép sơ sài trên giấy nháp và trao đổi qua tay nhau.
Đến tháng 8/2025, trong một dây hụi lớn, bà Lê Thị H, một người chơi, đến lượt lĩnh số tiền gần 3 tỷ đồng (do mỗi phần 150 triệu, có 20 người góp). Tuy nhiên, khi đến kỳ lĩnh, bà H chỉ nhận được 2 tỷ đồng. Bà M giải thích rằng “một vài người chưa kịp góp” và hứa sẽ trả sau vài tuần. Thế nhưng sau hơn hai tháng, số tiền vẫn không được thanh toán. Lúc này, các thành viên phát hiện bà M đã dùng tiền từ dây hụi này để bù cho dây khác - dẫn đến việc hụi vỡ dây chuyền. Bức xúc, nhiều người đã làm đơn phản ánh lên UBND xã có thẩm quyền.
Qua xác minh, chính quyền xã phát hiện bà M đang điều hành cùng lúc 3 dây hụi, mỗi dây có giá trị phần hụi đều trên 100 triệu đồng, nhưng không thực hiện nghĩa vụ thông báo bằng văn bản cho UBND xã nơi cư trú về việc tổ chức dây họ có giá trị các phần họ tại một kỳ mở họ từ 100.000.000 đồng trở lên theo quy định tại khoản 2, Điều 16 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình. Ngoài ra, bà M không lập sổ họ, không giao giấy biên nhận cho thành viên khi góp họ, lĩnh họ, nhận lãi, trả lãi hoặc thực hiện giao dịch khác có liên quan theo Điều 16, Nghị định số 144/2021/NĐ-CP.
Đặc biệt, trong quá trình kiểm tra, lực lượng chức năng cấp xã còn phát hiện bà M còn cho một số người chơi vay thêm tiền từ nguồn hụi với lãi suất 12%/tháng, vượt quá mức lãi suất cho phép theo Bộ luật Dân sự. Hành vi này bị xác định là “Lợi dụng việc tổ chức họ để cho vay lãi nặng mà lãi suất cho vay vượt quá tỷ lệ lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự” thuộc khoản 3 Điều 16 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP.
Ngày 19/5/2025, trên cơ sở các Biên bản làm việc, Biên bản vi phạm hành chính và Biên bản xác minh, Chủ tịch UBND xã đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với bà Trần Thị M về các hành vi sau đây:
1. Không thông báo bằng văn bản cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú về việc tổ chức dây họ có giá trị các phần họ tại một kỳ mở họ từ 100.000.000 đồng trở lên: mức phạt 7.500.000 đồng (Điểm b, khoản 2 Điều 16 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP);
2. Không lập sổ họ: mức phạt 3.500.000 đồng (Điểm d, khoản 1 Điều 16 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP);
3. Không giao giấy biên nhận cho thành viên khi góp họ, lĩnh họ, nhận lãi, trả lãi hoặc thực hiện giao dịch khác có liên quan: mức phạt 3.500.000 đồng (Điểm g, khoản 1 Điều 16 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP);
4. Lợi dụng việc tổ chức hụi để cho vay lãi nặng: phạt 15.000.000 đồng, đồng thời buộc nộp lại toàn bộ số lợi bất hợp pháp thu được (Điểm a, khoản 3 và khoản 4 Điều 16 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP).
Tổng cộng, bà M bị xử phạt 30.000.000 đồng và phải thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả hoàn trả toàn bộ số tiền lãi thu được trái quy định cho các thành viên.
Ngày 05/11/2025, UBND cấp xã đã phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã tổ chức buổi tuyên truyền pháp luật tại địa phương, phổ biến các quy định của Nghị định số 144/2021/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 282/2025/NĐ-CP ngày 30/10/2025 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/12/2025) quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng, chống bạo lực gia đình, trong đó có quy định về hoạt động họ, hụi, biêu, phường nhằm tuyên truyền, phổ biến cho người dân thực hiện việc tổ chức chơi họ, hụi, biêu, phường đảm bảo đúng theo quy định. Không để việc thiếu hiểu biết pháp luật mà dẫn đến hành vi vi phạm pháp luật, làm ảnh hưởng đến an ninh, trật tự tại địa phương.
BÀI HỌC PHÁP LÝ:
Câu chuyện của bà M là lời cảnh tỉnh cho nhiều người dân không chỉ trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng hiện nay mà còn trên cả nước nói chung, khi phong trào chơi hụi, góp vốn luân phiên đang ngày càng phổ biến trong các khu dân cư, chợ truyền thống và vùng nông thôn…
Pháp luật không cấm hình thức chơi hụi, nhưng nếu tổ chức quy mô lớn, giá trị phần hụi cao hoặc có nhiều dây hụi cùng lúc, người làm chủ phải thông báo cho chính quyền địa phương để được quản lý, giám sát. Việc lập sổ hụi, biên bản thỏa thuận và giấy biên nhận là nghĩa vụ bắt buộc để đảm bảo minh bạch và quyền lợi của các thành viên khi xảy ra tranh chấp.
Đặc biệt, việc lợi dụng hoạt động hụi để cho vay lãi nặng hoặc huy động vốn trái phép là hành vi vi phạm nghiêm trọng, có thể bị xử phạt nặng, thậm chí truy cứu trách nhiệm hình sự nếu gây hậu quả lớn.
“ Chơi hụi để giúp nhau lúc khó khăn là tốt, nhưng phải hiểu luật và tuân thủ đúng quy định. Mọi hành vi lợi dụng hụi để trục lợi hoặc cho vay nặng lãi đều bị xử phạt nghiêm minh. Mỗi người dân cần nêu cao tinh thần cảnh giác, góp phần xây dựng đời sống cộng đồng an toàn và thượng tôn pháp luật.”
Minh Hiền (Phòng Quản lý XLVPHC và TDTHPL)
3. Câu chuyện pháp luật:
HỆ LỤY KHI SỐNG CHUNG MÀ KHÔNG ĐĂNG KÝ KẾT HÔN
Một thực tế hiện nay ở các thành phố lớn, đô thị có một bộ phận giới trẻ lao động, học tập sinh sống cùng nhau và có không ít trường hợp sống chung với nhau như vợ chồng. Họ “góp gạo thổi cơm chung” nhưng không đăng ký kết hôn, không đám cưới với vô vàn lý do. Thế nhưng, phía sau sự “tự do” nhất thời đó là những lỗ hổng pháp lý và nỗi đau tinh thần, sức khỏe kéo dài, để lại nhiều hệ lụy cho chính bản thân, con cái và xã hội.
Những ngày đầu “tạm bợ”
Anh Trần Văn Hùng - chàng trai 22 tuổi vừa ra trường, mang theo hoài bão lập nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh. Chỉ sau 2 tháng quen nhau qua những lần chạm mặt tại dãy trọ, Hùng và Nguyễn Thị Lan nhanh chóng rơi vào lưới tình, họ yêu nhau và để tiết kiệm chi phí sinh hoạt ở một thành phố quá đắt đỏ, họ đã dọn đồ về ở chung cùng nhau trong một phòng trọ được thuê tại con hẻm nhỏ ở Thành phố Hồ Chí Minh. Trong căn phòng trọ chưa đầy mười lăm mét vuông, mọi thứ cứ thế vận hành theo một thói quen sinh hoạt hằng ngày. Hùng từ một chàng sinh viên đầy hoài bão giờ đã trở thành một nhân viên văn phòng mệt mỏi với những bảng số liệu, còn Lan cũng tất bật với công việc làm thêm từ sáng đến tối. Họ thuộc về nhau như một lẽ tự nhiên, như hai mảnh ghép cùng tìm kiếm sự ấm áp giữa lòng Sài Gòn xa hoa nhưng cũng đầy tất bật.
Sáng sáng, Lan chuẩn bị sẵn cặp lồng cơm cho Hùng, không quên dặn anh đi xe cẩn thận. Tối đến, họ lại cùng nhau ngồi bên mâm cơm đơn sơ, kể cho nhau nghe những va vấp ngoài xã hội. Những lúc ấy, họ trông chẳng khác gì một cặp vợ chồng thực thụ. Thế nhưng, đằng sau sự bình yên đó là một nỗi bất an không tên luôn hiện hữu.
Hai mùa Tết trôi qua, rồi năm này qua năm khác, cái danh xưng “vợ chồng hờ” dần trở thành một cái lồng vô hình. Mỗi lần có ai hỏi về chuyện cưới xin, Hùng lại tặc lưỡi: “Đợi thư thả thêm chút nữa, khi nào kinh tế ổn định mình sẽ tính”. Còn Lan, cô chỉ biết cười trừ, che giấu sự chạnh lòng trong ánh mắt. Cô hiểu, ở cái thành phố này, tình yêu đôi khi bị đè bẹp bởi tiền nhà, tiền điện, tiền nước. Một tờ giấy đăng ký kết hôn hay một đám cưới rình rang dường như là điều quá xa xỉ khi túi tiền lúc nào cũng vơi.
Sự gắn kết của họ không dựa trên pháp luật, mà dựa trên sự cần thiết của nhau trong cuộc mưu sinh. Họ dựa vào nhau để bớt thấy cô đơn, để chia sẻ gánh nặng tài chính. Nhưng chính vì không có gì “lận lưng”, không có sự ràng buộc chính thức, mối quan hệ ấy mỏng manh như sương khói. Một cuộc cãi vã lớn, một chút thay đổi trong lòng người, hay đơn giản là áp lực từ gia đình ở quê cũng đủ để làm sụp đổ tòa lâu đài cát mà họ đã kỳ công xây dựng bấy lâu.
Cứ thế, họ sống trong một trạng thái lửng lơ: không phải người dưng, nhưng cũng chẳng hoàn toàn là người nhà. Họ yêu nhau bằng một tình yêu nhuốm màu lo toan, một cuộc hôn nhân không lời chúc phúc, không lời thề nguyện, chỉ có tiếng quạt trần quay đều đều trong những đêm hè nóng bức của con hẻm nhỏ Sài Gòn.
8 năm và những vết sẹo không tên
Thời gian thấm thoát trôi qua, 8 năm chung sống đã nhào nặn họ thành một gia đình thực thụ với hai đứa con xinh xắn. Tuy nhiên, sự “tạm bợ” ban đầu giờ đây trở thành một cái bẫy nghiệt ngã. Đứa con lớn đã 6 tuổi, đứa nhỏ lên 2, nhưng trên mặt giấy tờ, chúng là những đứa trẻ “không cha”.
Nỗi đau bắt đầu âm ỉ khi con lớn đến tuổi đi học. Nhìn bạn bè có đầy đủ tên cha, tên mẹ trong lý lịch, đứa trẻ ngây thơ hỏi: “Bố ơi, sao trong giấy khai sinh của con chỗ tên bố lại bỏ trống?”. Câu hỏi ấy như nhát dao đâm vào lòng Hùng. Vì không có đăng ký kết hôn, Lan phải đi làm khai sinh cho con theo diện mẹ đơn thân để kịp cho con nhập học. Sự tự ti hiện rõ trên khuôn mặt trẻ thơ mỗi khi trường học yêu cầu khai thông tin hồ sơ gia đình.
Mọi chuyện chỉ thực sự bừng tỉnh khi Hùng gặp lại Minh, người bạn cũ từng học chung phổ thông. Trong khi Minh tự hào kể về tổ ấm vững chãi của mình, Hùng chỉ biết ngậm ngùi chia sẻ: ”Vợ chồng mình đã có 2 con rồi, cháu lớn được 6 tuổi, cháu nhỏ 2 tuổi, nhưng mới đăng ký khai sinh ở diện mẹ đơn thân. Trước kia cũng muốn đăng ký khai sinh cho con sớm nhưng do 2 vợ chồng chưa có thời gian rảnh để về quê đăng ký kết hôn, cho nên để giấy khai sinh của con có cha thì nghe nói phải làm thủ tục cha nhận con, nếu vậy thì phải giám định ADN mà chi phí lại rất cao nên vợ chồng mình để mãi đến bây giờ mới đăng ký khai sinh cho con, cho nên giấy khai sinh không có thông tin của cha”.
Minh chân thành khuyên nhủ: “Hùng à! Sự tiết kiệm mà ông nói thực chất là sự trốn tránh trách nhiệm. Ông tưởng ông đang bảo vệ kinh tế gia đình, nhưng thực tế ông đang tước đi quyền được khai sinh có cha mẹ đầy đủ, quyền được bảo vệ pháp lý của vợ và con ông. Nếu có bất trắc gì xảy ra, ai sẽ là người bảo hộ cho họ?”
Cái giá của sự thức tỉnh muộn màng
Khoảnh khắc đó, Hùng bàng hoàng nhận ra mình đã quá ích kỷ. Anh đã nhân danh tình yêu để bắt Lan và các con phải chịu đựng sự thiệt thòi. Anh quyết định cùng Lan về quê làm thủ tục.
Tại trụ sở UBND xã, bộ phận tiếp nhận giải quyết hồ sơ cho người dân, Hùng lúng túng khi trình bày hoàn cảnh. Do anh và Lan chưa đăng ký kết hôn, theo quy định, các con anh ban đầu chỉ được khai sinh theo họ mẹ và phần tên cha để trống. Để được ghi tên mình vào mục “Cha” trên giấy khai sinh của con, Hùng phải thực hiện thủ tục nhận cha cho con. Chị công chức tư pháp vui vẻ hướng dẫn tận tình: “Anh à! Theo quy định về thủ tục cha nhận con, anh cần có chứng cứ về quan hệ huyết thống, nên anh phải có văn bản xác nhận của cơ quan y tế hoặc kết quả giám định ADN.”
Cái giá phải trả không chỉ là 6 triệu đồng chi phí xét nghiệm ADN - một khoản tiền không nhỏ với đồng lương công nhân - mà còn là những ánh mắt dò xét của họ hàng, làng xóm và nỗi mặc cảm của các con suốt bao năm qua. Khi cầm tờ giấy khai sinh còn thơm mùi mực trên tay, nhìn vào dòng chữ ghi tên mình ở mục “Cha”, Hùng thấy sống mũi cay xè. Tờ giấy mỏng manh ấy lẽ ra đã có mặt từ lâu nếu anh không hờ hững. Đó là cái giá đắt đỏ cho sự thiếu hiểu biết và xem nhẹ kỷ cương pháp luật. Một bài học muộn màng nhưng đủ để anh hiểu rằng, trách nhiệm mới chính là nền móng bền vững nhất của một gia đình.
BÀI HỌC RÚT RA:
Câu chuyện của Hùng và Lan là bài học cảnh tỉnh sâu sắc cho các cặp đôi đang có ý định “sống thử” hoặc sống chung lâu dài mà không đăng ký kết hôn:
Về mặt pháp lý: Đăng ký kết hôn không phải là sự ràng buộc mất tự do, mà là lá chắn được pháp luật bảo vệ. Nó xác lập quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng trong các quan hệ hôn nhân, tài sản, thừa kế,… và đặc biệt là quyền lợi của con cái. Không có giấy kết hôn, việc xác nhận quan hệ cha - con trở nên phức tạp, tốn kém và gây tổn thương về mặt tâm lý.
Về mặt đạo đức và trách nhiệm: Sống chung không đăng ký thường đi kèm với tâm lý “dễ đến dễ đi”. Điều này tạo ra sự bất an cho người phụ nữ và sự thiếu trách nhiệm của người đàn ông. Một mối quan hệ nghiêm túc cần sự thừa nhận của pháp luật và xã hội để có động lực cùng nhau vượt qua nghịch cảnh.
Hệ lụy đối với con cái: Trẻ em là đối tượng chịu thiệt thòi nhất. Việc thiếu tên cha trong giấy khai sinh hoặc phải trải qua các thủ tục xét nghiệm ADN để nhận cha sẽ gieo vào lòng trẻ sự tự ti, mặc cảm, ảnh hưởng lớn đến quá trình hình thành nhân cách và sự hòa nhập xã hội sau này.
Giá trị của sự chính danh: Đừng vì tiết kiệm tiền làm đám cưới hay sự “ngại” làm thủ tục đăng ký kết hôn mà đánh đổi bằng danh dự và quyền lợi cả đời. Sự tuân thủ pháp luật chính là nền tảng bền vững nhất cho hạnh phúc gia đình.
Thông điệp: Đừng để sự thiếu hiểu biết pháp luật trở thành gánh nặng lên vai những đứa trẻ vô tội. Đăng ký kết hôn là trách nhiệm, là tình yêu và là sự tôn trọng cao nhất dành cho người đồng hành cùng mình.
Châu Vân, Phòng HCTP
4. Câu chuyện pháp luật: TÌNH PHỤ TỬ
Một buổi sáng lặng gió, khi những tia nắng đầu tiên vừa kịp len qua tán cây trước sân, anh Tuấn dắt theo một bé gái trông xinh xắn, dễ thương bước vào trụ sở Ủy ban nhân dân xã. Nhìn dáng anh dắt tay, chăm sóc, cột tóc lại cho con đầy cẩn trọng và yêu thương ai cũng hiểu: có lẽ đây là lần đầu tiên người đàn ông ấy vừa làm cha, vừa tự mình gánh vác mọi điều cho đứa trẻ.
Anh ngập ngừng trước bàn làm việc của cán bộ tư pháp - hộ tịch.
“Anh… muốn làm Giấy khai sinh cho con.”
Người cán bộ mỉm cười, nhẹ nhàng hỏi thêm vài thông tin. Nhưng câu chuyện phía sau lời nói ấy lại không hề đơn giản.
Anh Tuấn kể, trước đây anh và chị H. quen nhau, rồi dọn về sống chung như vợ chồng. Họ chưa từng đăng ký kết hôn. Cuộc sống vốn đã nhiều chông chênh, đến khi chị H. sinh con thì mọi chuyện càng rối hơn. Sau khi sinh, chị bỗng rời bỏ anh Tuấn đi, không để lại địa chỉ, cũng không còn liên lạc được nữa.
Từ đó, chỉ còn lại anh và đứa bé.
Anh cố gắng vừa làm việc, vừa chăm con, lo từng bình sữa, từng giấc ngủ. Thời gian thấm thoắt trôi qua, đã ba mùa cây thay lá, đến lúc phải cho con đi học mẫu giáo để mình còn có thời gian làm việc kiếm tiền lo cho con ăn học. Nghĩ vậy nên anh đã đến trường mẫu giáo trong làng hỏi thủ tục cho con đi học và được hướng dẫn phải có Giấy khai sinh của con nộp vào hồ sơ nhập học. Thế là đã đến lúc cần làm Giấy khai sinh cho con, anh mới biết mình đang đứng trước một rắc rối khác: không có người mẹ để cùng làm thủ tục.
“Không biết… trường hợp của tôi có làm khai sinh cho cháu được không?” - anh hỏi, giọng đầy lo lắng.
Cán bộ tư pháp - hộ tịch lật giở các quy định pháp luật rồi giải thích chậm rãi:
“Theo quy định của pháp luật về hộ tịch, việc đăng ký khai sinh cho trẻ luôn được tạo điều kiện để bảo đảm quyền lợi cho trẻ em. Với những trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn, sau khi sinh con mà người mẹ bỏ đi, không rõ tung tích, thì người cha vẫn có thể thực hiện thủ tục nhận cha, con đồng thời với đăng ký khai sinh cho trẻ. Quy định này được hướng dẫn tại khoản 1 Điều 16 Thông tư số 04/2020/TT-BTP của Bộ Tư pháp” - cán bộ nói với vẻ mặt quan tâm hai cha con anh Tuấn.
Điều khiến anh Tuấn bất ngờ nhất là: nếu không liên hệ được với người mẹ, thì khi làm thủ tục nhận cha, con, không cần phải có ý kiến của người mẹ trong Tờ khai đăng ký nhận cha, mẹ, con.
Nghĩa là, dù người mẹ vắng mặt, đứa trẻ vẫn có thể được pháp luật công nhận quan hệ cha con và được đăng ký khai sinh.
Cán bộ tư pháp - hộ tịch tiếp tục giải thích:
“Nếu anh còn giữ Giấy chứng sinh của đứa trẻ và giấy tờ tùy thân của người mẹ, thì thông tin về người mẹ sẽ được ghi theo đúng các giấy tờ đó.
Còn trong trường hợp không có Giấy chứng sinh hoặc giấy tờ tùy thân của người mẹ, thì phần thông tin về người mẹ có thể ghi theo thông tin do người cha cung cấp, và người cha chịu trách nhiệm về tính chính xác của thông tin này.”
Nghe đến đây, anh Tuấn khẽ thở phào. Bấy lâu nay anh cứ nghĩ con mình có thể sẽ gặp nhiều rào cản, khó khăn chỉ vì thiếu vắng người mẹ trong quá trình khai sinh cho con.
Nhưng pháp luật không để một đứa trẻ phải chờ đợi quyền được khai sinh chỉ vì hoàn cảnh gia đình đặc biệt. Sau khi được cán bộ tư pháp hướng dẫn, anh Tuấn đã hoàn tất hồ sơ đăng ký khai sinh kết hợp nhận cha, con theo quy định pháp luật.
Chẳng bao lâu sau, khi cầm trên tay tờ Giấy khai sinh của con, anh Tuấn nhìn rất lâu vào dòng chữ ghi tên đứa bé. Một tờ giấy không lớn, nhưng lại là sự ghi nhận chính thức rằng từ hôm nay, con anh đã có tên trong sổ hộ tịch, có quyền được bảo vệ, được học hành, được lớn lên như bao đứa trẻ khác.
Ở góc phòng làm việc của bộ phận hộ tịch, câu chuyện ấy rồi cũng khép lại như bao hồ sơ khác. Nhưng nó đọng lại trong chúng ta một điều thật sâu lắng và ấm áp.
Bài học rút ra:
Pháp luật không chỉ là những điều khoản khô khan.
Đôi khi, pháp luật chính là cách để một người cha có thể gọi con mình bằng hai tiếng “con của cha”, và để một đứa trẻ được bắt đầu cuộc đời bằng một cái tên hợp pháp.
Chu Nga - Phòng HCTP
5. Câu chuyện pháp luật:
KHI YÊU THƯƠNG CHIẾN THẮNG MỌI ĐỊNH KIẾN
Vợ chồng anh Dũng, chị Hạnh cùng gia đình bên chồng từ Hà Nội vào một xã vùng sâu thuộc tỉnh Lâm Đồng để đi xây dựng vùng đất kinh tế mới, lập nghiệp mưu sinh. Cuộc sống của hai người vốn rất chật vật, khó khăn, lại còn mang trên mình những áp lực và gánh nặng về chuyện “sinh con trai để nối dõi tông đường”. Sau hơn ba năm cưới nhau, vợ chồng anh sinh được 2 đứa con gái rất xinh xắn, ngoan hiền. Nhưng áp lực chồng chất khi sinh con một bề, anh Dũng không hài lòng với những gì hiện có, vì trong suy nghĩ của anh luôn chịu áp lực từ phía dòng tộc, làng xóm, khiến anh từ một người hiền lành, biết yêu thương vợ lại trở nên định kiến, mặc cảm…”một gia đình phải có con trai mới là trọn vẹn”.
Khi đứa con gái thứ 2 vừa tròn 2 tuổi thì chị Hạnh tiếp tục mang thai đứa thứ 3. Ngày ngày trôi qua, anh Dũng cũng như toàn thể gia đình bên Nội đều ngóng trông đứa trẻ chào đời, nhưng niềm vui chưa kịp nở trọn thì đã tắt lịm khi đứa trẻ cất tiếng khóc đầu tiên. “Lại là con gái…” - giọng anh Dũng thốt ra lạnh như gió đêm.
Vài ngày sau, chị Hạnh từ viện về nhà với đứa bé, không một ai hân hoan chào đón, ngược lại là sự hất hủi, chửi bới của anh Dũng”…nhà đã rõ nghèo rồi, lại thêm con gái, cô không biết đẻ con trai à?”. Giọng của chồng nghe như gáo nước lạnh, chị Hạnh chỉ biết ôm con, nước mắt lăn dài tự nghĩ an ủi bản thân “Con của mình, mình sẽ cố gắng nuôi con khôn lớn…!”
Từ ngày sinh đứa bé, đến ngày tròn tháng, nhưng anh Dũng không hề hỏi han, quan tâm tới hai mẹ con chị Hạnh, ngược lại chỉ biết đắm chìm trong cơn say rượu, tối ngày anh chỉ biết nhậu nhẹt cùng bạn bè, về đến nhà là la mắng, chửi rủa vợ con: “Đồ đàn bà vô dụng!”, “Đàn bà không biết đẻ!”. Những trận đòn vô cớ liên tục trút xuống thân thể người phụ nữ vốn đã đầy tổn thương. Những lời quát mắng, lớn tiếng đối với hai đứa con gái còn rất hồn nhiên và ngây thơ.
Buổi sáng hôm ấy, anh đưa ra một quyết định tàn nhẫn và nói với vợ - “Tôi quyết định rồi, đã có 2 đứa con gái rồi, nên đứa này, mình không nuôi nữa, giờ tôi đưa nó đến chùa, ở đó nhà chùa sẽ nuôi nó, nhà mình sẽ chuyển đến nơi khác ở, đẻ đứa khác, nhất định là con trai, ở đây tôi xấu hổ lắm!”. Nói dứt lời, Dũng ôm đứa bé bước ra cửa, chị Hạnh và hai con khóc lóc, giữ lại, van xin, nhưng Dũng không cho, còn xô ngã vợ...!
Nghe ồn ào, hàng xóm chạy qua. Lần này nhận thấy tình hình phức tạp, sợ có chuyện không hay nên họ nhanh chóng báo tin cho Trưởng thôn và cán bộ xã tới khuyên răn, giải quyết.
Ngay lập tức, bác Thiện - là cán bộ tư pháp vừa mới nghỉ hưu được hơn 1 năm nay, hiện bác cũng đang làm Trưởng thôn, từ ngoài sân, bác chậm rãi bước vào, giọng trầm nhưng ấm, đủ để cả hai vợ chồng lặng đi:
“Các con à, vợ chồng sống với nhau là duyên, là nghĩa. Vậy mà chỉ vì chuyện con trai hay con gái mà trong nhà lúc nào cũng nặng nề, tiếng khóc nhiều hơn tiếng cười, thì bác thấy xót lắm. Hơn nữa, vợ con vừa sanh cháu tròn tháng, sức khỏe chưa hồi phục. Con cái là lộc trời cho, trai hay gái đều là máu mủ của mình. Con gái không phải là điều thiệt thòi, mà chính là phúc phần nếu các con biết trân trọng, dạy dỗ nên người. Xưa nay, bao nhiêu người con gái đã làm rạng danh gia đình, chăm sóc cha mẹ lúc tuổi già - điều đó có kém gì con trai đâu?”
Còn con… là đàn ông trong nhà, phải là chỗ dựa cho vợ con, chứ không phải là người gieo sợ hãi. Bác nói thật, nếu cứ tiếp tục như vậy, không chỉ tình cảm tan vỡ mà còn có thể vi phạm pháp luật. Đến lúc ấy, hối cũng không kịp. Nhân đây, bác chia sẻ cho con nghe mà tự suy nghĩ lại:
“Với hành vi đánh đập vợ con không chỉ là tàn nhẫn, mà còn vi phạm Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022 và có thể bị xử lý hành chính hoặc nặng hơn sẽ bị xử lý hình sự nếu gây thương tích nặng và hành hạ thường xuyên.
Hơn nữa, hành vi bỏ rơi con của mình cũng là vi phạm pháp luật theo Điều 6 Luật Trẻ em năm 2016: “Nghiêm cấm hành vi bỏ rơi, bỏ mặc trẻ em.” Nặng hơn, có thể bị xử lý hình sự theo Điều 124 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về Tội giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ.
Đồng thời, trong trường hợp nếu cháu bỏ con của mình, người khác nhận nuôi, được pháp luật công nhận, giả sử một ngày nọ cháu có hối hận, muốn nhận lại cũng không được. Bởi vì theo Điều 24 Luật Nuôi con nuôi năm 2010, kể từ ngày việc nuôi con nuôi được đăng ký, cha mẹ nuôi và con nuôi có đầy đủ quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con; từ đây, cha mẹ đẻ không còn quyền, nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, cấp dưỡng, đại diện theo pháp luật, bồi thường thiệt hại, quản lý, định đoạt tài sản riêng đối với con đã cho làm con nuôi.”
Nói tới đây, bác nhớ lại khoảng thời gian còn đi làm, bác có giải quyết một trường hợp thế này: “Hai vợ chồng nọ cũng sinh đứa con đầu lòng, nhưng do hoàn cảnh khó khăn nên đem cho người khác nuôi, vài năm sau quay về xin nhận lại con, nhưng không được vì đứa bé đã được chính quyền địa phương giải quyết cho làm con nuôi và được pháp luật công nhận. Sau này, cả hai vợ chồng vô cùng hối hận khi mà 10 năm trôi qua vẫn không thể mang thai và sinh thêm đứa con nào…”
Nghe bác nói, anh Dũng lặng yên! Với bản tính lương thiện, tốt bụng, lời bác Thiện nói như một “mũi tên” đâm xuyên vào từng tế bào, từng suy nghĩ trong anh: “Những giọt nước mắt lăn dài, nắm lấy đôi bàn tay yếu mềm của vợ…anh xin lỗi… chỉ vì áp lực từ dòng tộc, vì anh là con trai đích tôn của tộc họ, cũng vì quan niệm cổ hũ phong kiến mà anh đã có những lời nói, hành động gây tổn thương vợ và gia đình…chị Hạnh không nói gì, chỉ ôm chặt lấy ba đứa con, nước mắt rơi nhưng ánh nhìn đã dịu lại. Hai đứa nhỏ nép vào lòng mẹ, còn đứa bé sơ sinh nằm trong vòng tay anh Dũng - lần đầu tiên, anh ôm con mà không còn sự chối bỏ, chỉ còn lại sự run rẩy và ân hận.
Nhìn thấy tình hình êm dịu, bác Thiện vỗ nhẹ vai Dũng nói và ra về: “Thôi thì từ hôm nay, các con ngồi lại với nhau, nhìn vào những gì mình đang có - một mái nhà, những đứa con khỏe mạnh - đó đã là hạnh phúc lớn rồi. Biết trân trọng, biết sửa mình, thì gia đình mới yên, cuộc sống mới an.”
Năm tháng trôi qua, ba cô con gái lớn lên khỏe mạnh, ngoan ngoãn. Đứa lớn học giỏi, đứa thứ hai khéo léo, còn đứa út - cô bé từng bị từ chối - lại là đứa quấn cha nhất. Mỗi lần nghe con gọi “ba ơi”, anh Dũng lại thấy lòng mình nhói lên, nhưng không phải vì xấu hổ, mà vì biết ơn… vì mình đã kịp quay đầu.
Một chiều nọ, khi ngồi trước hiên nhà, nhìn ba đứa con ríu rít chơi đùa, anh khẽ nói với vợ, giọng trầm nhưng vững vàng: “Các con thật ngoan hiền……chỉ mong chúng nó khỏe mạnh, khôn lớn, nên người là anh hạnh phúc!”
Chị Hạnh mỉm cười, nụ cười của sự hạnh phúc thật sự trọn vẹn.
Ở nơi vùng đất xa quê ấy, một gia đình nhỏ đã đi qua giông bão. Và điều ở lại không phải là nỗi đau, mà là sự thức tỉnh, yêu thương và một bài học giản dị:
BÀI HỌC RÚT RA:
Trọng nam khinh nữ là một định kiến lạc hậu, gây ra những bi kịch không thể cứu vãn. Mọi đứa trẻ đều có quyền được sống và được yêu thương, không phân biệt trai hay gái. Bỏ rơi trẻ em và bạo lực gia đình không chỉ trái đạo đức mà còn vi phạm pháp luật. Hạnh phúc không nằm ở việc có con trai hay con gái, mà nằm ở cách con người ta biết yêu thương và giữ gìn những gì mình đang có.
Thúy Hà - Phòng HCTP